Partner im RedaktionsNetzwerk Deutschland
Höre {param} in der App.
Höre TẠP CHÍ ÂM NHẠC in der App.
(7.565)(6.472)
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
StartseitePodcasts
TẠP CHÍ ÂM NHẠC

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Podcast TẠP CHÍ ÂM NHẠC
Podcast TẠP CHÍ ÂM NHẠC

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

hinzufügen

Verfügbare Folgen

0 von 24
  • Renaud và tuyển tập nhạc Pháp chọn lọc
    Một trong những đĩa hát được nhắc đến nhiều trong tháng này là album phòng thu thứ 18 của ca sĩ kiêm tác giả người Pháp Renaud. Lần này, Renaud gác bút sáng tác và chủ yếu ghi âm lại những bản nhạc Pháp rất quen thuộc mà theo lời của chính nam danh ca (sinh năm 1952) đã từng nuôi dưỡng tâm hồn của ông thời niên thiếu. Ca khúc trích đoạn đầu tiên của album này là bản nhạc ''Le Métèque'', một giai điệu rất ăn khách do Georges Moustaki sáng tác năm 1969. Danh ca Renaud chọn bài hát này để đặt tựa đề cho album vừa phát hành của mình vì bản nhạc gợi lại cho ông rất nhiều kỷ niệm. Vào những năm 1973-1974, Renaud lúc ấy mới ngoài 20 tuổi vẫn chưa dứt khoát chọn nghề sân khấu mà ông đang đeo đuổi. Ban đầu dự định trở thành diễn viên (cùng thời với Coluche), nhưng trái với đồng nghiệp, các dự án đóng phim hay diễn kịch của Renaud đều gặp thất bại. Để kiếm sống, Renaud chuyển qua làm nghệ sĩ đường phố, chuyên đi hát rong ở các dãy phố Marais và Montparnasse. Giai điệu ''Le Métèque'' của Moustaki cũng như những bài hát của Georges Brassens, Bourvil, Montand, Ferrat hay Serge Reggiani là những bản nhạc đầu đời trước khi Renaud thành danh vào năm 25 tuổi với những sáng tác của chính mình kể từ năm 1977 trở đi. Những bản nhạc gắn liền với thời chưa thành danh Album phòng thu thứ 18 của Renaud bao gồm 13 bài hát thịnh hành từ đầu những năm 1950 cho tới năm 1976. Đó là những nhạc phẩm Renaud thường hay hát để làm ấm giọng trước khi lên sân khấu. Không phải ngẫu nhiên, Renaud dừng lại ở thời điểm này. Hầu như bất cứ ca sĩ nào trước khi thành công với những bản nhạc nguyên tác, đều gợi hứng từ những nghệ sĩ mà họ hằng ngưỡng mộ. Ở Renaud, tác giả mà ông khâm phục nhất trong cách sáng tạo ngôn từ vẫn là Brassens, đủ để cho Renaud ghi nguyên một album (phát hành vào năm 1996) tưởng niệm bậc đàn anh quá cố. Khác với giới thanh thiếu niên cùng trang lứa luôn si mê các thần tượng nhạc trẻ Pháp những năm 1960 (Sylvie, Johnny, Eddy, Christophe …..), Renaud ở độ tuổi 13-14 chỉ mến phục Hugues Auffray, chủ yếu cũng vì nghệ sĩ này từng phóng tác sang tiếng Pháp các bản nhạc quen thuộc của Bob Dylan và bản thân Renaud tự nhận ra mình trong lối sáng tác của Hugues Auffray, một nghệ sĩ tự do có tinh thần phản kháng, thích khuynh đảo trật tự, các lề thói rập khuôn. Một trong những gương mặt quen thuộc xuất thân từ phong trào nhạc trẻ Pháp thập niên 1960, chính là Françoise Hardy. Bản nhạc ăn khách mang tựa đề ''L'Amitié'' do cô ghi âm vào năm 1965 (sáng tác của Jean-Max Rivière và Gérard Bourgeois) lọt vào danh sách 13 ca khúc yêu chuộng nhất của Renaud. Nam danh ca chọn bài này vì theo ông, gia đình và tình bạn là hai điều mà ông rất trân quý khi cuộc đời đến tuổi xế chiều. Càng lớn tuổi, ông càng muốn tìm lại những điều có ý nghĩa nhất đối với mình. Ngòi bút Renaud và lối sáng tạo độc đáo Thành danh trong làng nhạc từ hơn 4 thập niên qua, Renaud (cũng như Gainsbourg) thuộc vào hàng nghệ sĩ lớn của Pháp, đặc sắc nhờ vào lối sáng tác hơn là nhờ vào chất giọng. Serge Gainsbourg nổi tiếng nhờ cái tài chơi chữ cũng cách dùng nhiều từ nước ngoài (chủ yếu là tiếng Anh) để làm giàu vần điệu, còn Renaud nếu trong thời gian đầu có phần bắt chước Brassens, nhưng sau đó lại biết phát huy sở trường của mình : cố tình viết sai chính tả, đảo lộn cú pháp và dùng nhiều danh từ riêng, tiếng lóng cũng như cách nói lái. Nơi Renaud, có cả ngôn ngữ bình dân đường phố và đồng thời cách nói của ''trẻ con'', chữ không chính xác đôi khi vụng về ngây ngô, nhưng khi đưa vào bài bát lại đầy nét trìu mến, cảm động dễ thương. Chính với thủ pháp này mà Renaud đã sáng tác vào năm 1985 nhạc phẩm ''Mistral Gagnant'', một bài hát nói về hoài niệm tuổi thơ, để rồi ba thập niên sau đó, bản nhạc được xếp vào hàng ca khúc yêu chuộng nhất của người Pháp (2015). Vào nghề ca hát từ năm 1975, Renaud tính đến nay đã phát hành hơn 40 tập nhạc đủ loại, trong đó có 18 album phòng thu, ba album nhạc phim và hai tuyển tập tribute, gồm các bản nhạc nổi tiếng của Renaud do giới nghệ sĩ trẻ ghi âm lại. Sự nghiệp của Renaud có dấu hiệu lu mờ từ năm 2005 trở đi, số bán của mỗi album từ hơn một triệu bản xuống còn vài trăm ngàn. Chứng nghiện rượu của Renaud luôn bị phơi bày trên mặt báo, cho dù kể từ năm 2016, ca sĩ kiêm tác giả cho biết không còn uống một giọt cồn nào, nhưng công chúng đều nhận thấy, tiếng hát của Renaud không còn phong độ, nếu không nói bị hỏng chất giọng do nhiều năm lạm dụng rượu mạnh và thuốc lá. Bản thân Renaud cho biết ông rất sợ tuổi già, phận người cao niên chẳng khác gì một vụ đắm phà. Dù có yêu hay ghét Renaud, nhưng rõ ràng khi nghe giọng ca, ta chợt ngậm ngùi cho một thời huy hoàng đã qua.
    6/25/2022
    9:11
  • Những ca khúc hồi sinh nhờ phim ảnh
    Âm nhạc và điện ảnh luôn có mối quan hệ khăng khít. Đặc biệt, những bài hát kinh điển có thể sống lại nhờ các bộ phim ăn khách. Năm 2022, hai ca khúc kinh điển của Nirvana và Kate Bush hồi sinh mạnh mẽ nhờ hai bộ phim Batman (Người Dơi) và Stranger Thing (Điều kỳ lạ). Stand by me – Ben.E King Bản gốc ca khúc Stand By Me (Đứng bên anh) phát hành năm 1961 bởi ngôi sao R&B người Mỹ, Ben King. Bài hát trở nên rất phổ biến khi đạo diễn Rob Reiner sử dụng ca khúc trong bộ phim kinh dị chuyển thể từ tiểu thuyết của Stephen King, The Body (Xác chết). Bài hát thực hiện được sứ mệnh cao cả : Truyền tải nguyên vẹn cảm xúc của bộ phim. Ngoài ra, bài hát còn được khoác lên mình một video clip âm nhạc hoàn toàn mới mẻ do ngôi sao quá cố River Phoenix thủ vai. Sau 25 năm, ca khúc vẫn trụ trong top 10 Billboard những ca khúc ưa thích nhất trong năm 1986. Thời gian không làm phai mờ giá trị âm nhạc của Stand By Me. Trái lại, đạo diễn phim biết khai thác giá trị vô hình đó để làm đòn bẩy cho “đứa con tinh thần” mang tên The Body. What a wonderful world – Louis Armstrong Bộ phim Good Morning Vietnam (Chào buổi sáng Việt Nam) do diễn viên kỳ cựu, Robin Williams thủ vai đã làm sống dậy bản nhạc jazz bất hủ. What a wonderful world (Một thế giới tuyệt đẹp) qua giọng ca Louis Armstrong tràn ngập màu sắc lạc quan, tương sáng về cuộc sống. Đây là ca khúc ghi dấu ấn của cây kèn trumpet nhờ chất giọng khàn và lối hát lôi cuốn tự nhiên. Cho dù khai sinh lần đầu năm 1967, hai mươi năm sau ca khúc trở nên thịnh hành trên toàn nước Mỹ. Đạo diễn sử dụng ca khúc trong phân đoạn có hình ảnh chiến tranh tàn khốc, đẫm máu. Thủ pháp “ngược đời” này tạo nên hiệu ứng bất ngờ cho khán giả. Bộ phim Good Morning Vietnam đã mở đường cho nhà sản xuất phát hành lại đĩa đơn ca nhạc ưa thích. Ngay lập tức, ca khúc này lọt ngay vào Top 100 Billboard và trụ ở hang 32 trong năm 1987. Unchained Melody – Righteous Brother Năm 1990, bộ phim Ghost (Oan hồn) đã lấy nước mắt khán giả nhờ câu chuyện tình cảm động giữa Sam (Patrick Swayze) và Molly (Demi Moore). Sam bị giết hại để chiếm đoạt tấm séc triệu đôla và cả người bạn gái xinh đẹp. Bản nhạc xưa Unchained Melody như “đo ni đóng giày” cho câu chuyện tình âm dương cách trở của Sam và Molly. Sam vẫn tìm cách liên lạc, trò chuyện với Molly thông qua nhiều cách khác nhau. Ca khúc như một sợi dây vô hình liên kết tình cảm của hai nhân vật chính. Bản nhạc kinh điển của nhóm Righteous Brother nhanh chóng quay trở lại bảng xếp hạng Top 100 Billboard. Các nhà sản xuất nhạy bén tung ra hai phiên bản, bản gốc và bản ghi âm mới. Cả hai phiên bản này đều chiếm thứ hạng cao, 13 và 19. Oh my darling, I am hunger for your touch, long long time (Ôi người yêu dấu, anh vẫn mơ ước được ôm em, đã lâu lắm rồi). Bohemian Rhapsody” (Wayne’s World / Bohemian Rhapsody) Bản nhạc lừng lẫy của nhóm Queen từng làm mưa gió năm 1975. Độ dài 6 phút từng khiến cho ban nhạc hết hy vọng được phát sóng trên radio thời bấy giờ. Tuy nhiên, ca khúc leo lên hạng 1 ở Anh và Mỹ khi ra mắt. Bohemian Rhapsody thực chất gồm ba bản nhạc ghép lại theo phong cách pop ballad, opera và glam rock. Sức sống bản nhạc kinh điển được đánh thức hơn 17 năm sau. Bộ phim Wayne’s World (Thế giới của Wayne) sử dụng Bohemian Rhapsody làm ca khúc chủ đạo nhạc phim. Một lần nữa, bản nhạc tiếp tục oanh tạc bảng xếp hạng Billboard năm 1992, lên hạng 2 trong top 100 ca khúc hot nhất. Bộ phim cũng đạt doanh thu vượt kỳ vọng mong đợi, 121 triệu đô. Cú lắc đầu theo điệu nhạc Rhapsody của danh hài Mike Meyers được bàn tán nhiều nhất trên truyền thông. Năm 2018, bộ phim tiểu sử về Freddie Mercury lại đưa ca khúc hồi sinh mạnh mẽ hơn. Something in the way – Nirvana Ca khúc trầm, buồn, đầy giận dữ của nhóm Nirvana trích trong album kinh điển Nevermind (1991). Hình ảnh bìa album dính líu tới vụ kiện hình ảnh đứa trẻ đang bơi không mặc quần áo. Something in the way là ca khúc kém nổi bật nhất trong số các bản hit rực lửa của nhóm alternative rock. Nó khá trầm buồn và hoàn toàn khác biệt với các bản hit xuất sắc của nhóm. Tuy nhiên, chất giọng Kurt Cobain đầy lửa trong tiết tấu chậm rãi của bản nhạc. Thú vị, vận may mang tên Hollywood đã khoác chiếc áo mới cho ca khúc. Bộ phim bom tấn, The Batman (2022) đã sử dụng Something in the way trong phần nhạc phim. Trên thiên đàng, linh hồn của nhóm, Kurt Cobain, chắc sẽ mỉm cười trước thành quả lao động ba thập kỷ trước. Bài hát lọt vào top 100 Billboard tháng 3 năm nay. Cho dù đạt thứ hạng khiêm tốn, bản nhạc là ví dụ sinh động cho những ca khúc kinh điển không bị lãng quên. Running Up that Hill – Kate Bush Năm 2022, ngôi sao pop/rock người Anh, Kate Bush ngẫu nhiên hưởng trái ngọt của thành quả lao động gần 40 năm trước. Ca khúc Running Up that hill có tần suất phát dày đặc trong phim truyền hình kinh dị ăn khách, Stranger Thing (Điều lạ thường) trên kênh Netflix. Ca khúc từng có tựa đề nguyên bản là A Deal with God (Thương lượng với Chúa trời). Trong đó, Kate muốn nhấn mạnh về sự hoán đổi giữa nam giới và phụ nữ do hai giới luôn có sự khác biệt, nhiều bất đồng. Nữ ca sỹ cho rằng sự hoán đổi sẽ khiến họ thấu hiểu về nhau hơn. Ca khúc từng lên hạng 9 tại Anh và nằm trong top 30 tại Mỹ năm 1985. Hiệu ứng lan truyền đã đưa ca khúc có tuổi đời xưa cũ quay trở lại bảng xếp hạng Billboard 100. Điều đáng nói là ca khúc vào hẳn top 10 sau 4 thập kỷ. Lời ca và giai điệu ám ảnh của ca khúc còn truyền cảm hứng cho nữ ca sỹ trẻ Halsey hát lại. Trước đó, khá nhiều phim truyền hình như Glee, cover lại rất nhiều ca khúc kinh điển nhưng hiếm có bản hit nào được “tái sinh”. Bộ phim truyền hình ăn khách này đã tạo được cú hích ấn tượng. Có lẽ sự hợp lực giữa phim truyền hình và nhạc đạt được sự cộng hưởng bất ngờ thông qua các kênh nghe nhạc hiện đại. Giờ đây, các kênh streaming như Spotify, Tiktok có số lượng người nghe trực tuyến gấp nhiều lần so với radio, CD hay băng cassette. Những ví dụ trên cho thấy các bài hát kinh điển luôn có chỗ đứng nhất định trong lòng công chúng. Đó là những chiếc lò xo có sức bật không ngờ tới nhờ sự hỗ trợ của môn nghệ thuật thứ bảy. (Theo Billboard, Wikipedia)
    6/18/2022
    9:57
  • Giao hưởng và nhạc kịch, những dự án lớn về Édith Piaf
    Tuy không hẹn, nhưng có khá nhiều dự án âm nhạc nhân kỷ niệm 60 năm ngày Édith Piaf (1915-1963) qua đời, sẽ được trình làng kể từ mùa xuân năm nay đến đầu năm tới. Danh ca người Canada Isabelle Boulay khởi động vòng lưu diễn với một dàn nhạc giao hưởng. Ca sĩ Pháp Chimène Badi trở lại với nhà hát Olympia trong một chương trình dành riêng cho Piaf đầu năm 2023. Nữ ca sĩ Zaz được chọn làm vai chính cho một vở nhạc kịch, dựng lại cuộc đời của Piaf trên sân khấu Las Vegas. Trong số các giọng ca đến từ vùng đất lạnh chuyên hát lại những bản nhạc vàng của Pháp từ vài thập niên trước (Brel, Aznavour, Reggiani, Serge Lama), Isabelle Boulay có lẽ là người diễn đạt có hồn nhất, nhờ hiểu từng câu chữ mà làm nổi bật ý tứ của bài hát. Thành danh cách đây hai thập niên nhờ đoạt nhiều giải thưởng của khối Pháp ngữ, Isabelle Boulay thường hay thực hiện một số cover các bản nhạc Pháp ăn khách thời trước trên các album của mình.Thế nhưng, lần này trong chương trình « Piaf Symphonique », đây có lẽ là lần đầu tiên cô dành nguyên một buổi biểu diễn chuyên đề với 14 ca khúc quen thuộc của Piaf. Tình ca của Piaf phối với dàn nhạc giao hưởng Đúng với tên gọi của nó, chương trình này là sự hội ngộ giữa giọng ca trầm ấm của Isabelle Boulay với dàn nhạc giao hưởng thành phố Nice (Côte d'Azur), dưới sự chỉ đạo nghệ thuật của nhạc sĩ người Nhật Nobuyuki Nakajima. Vòng lưu diễn của dàn nhạc giao hưởng với Isabelle Boulay là ca sĩ chính bắt đầu trong tháng này và sẽ kéo dài cho tới cuối tháng Bảy thông qua một số liên hoan ca nhạc. Đoàn nghệ sĩ sẽ biểu diễn cuối tháng 05/2022 tại nhà hát cổ thành phố Orange, tại Draguignan đầu tháng 7 và một số liên hoan ở vùng Provence nhân dịp hè về. Thật ra, Isabelle Boulay đã thực hiện bước kế tiếp, giống như những gì mà nữ ca sĩ người Pháp Anne Carrère (sinh trưởng ở Toulon) đã từng làm. Giọng ca này đã thành công rực rỡ ở nước ngoài trong ba năm liền nhờ thủ vai chính trong vở nhạc kịch « Piaf The Show ». Đợt biểu diễn (với hơn 60 buổi) đã kết thúc tại Carnegie Hall, nơi mà Édith Piaf từng chinh phục khán giả và giới phê bình Mỹ vào năm 1957. Vở nhạc kịch này bị gián đoạn trong vòng hai năm (do dịch Covid-19) và nay được khởi động lại nhân dịp làng nhạc Pháp chuẩn bị kỷ niệm từ năm nay cho đến năm đúng 60 năm ngày Piaf qua đời (1915-1963). Từ bản song ca ảo đến nguyên một đêm hát nhạc Piaf Về phần mình, nữ ca sĩ người Pháp Chimène Badi đã chính thức thông báo trên các mạng xã hội một đợt biểu diễn tại nhiều thành phố Pháp cũng trong năm tới. Mang tựa đề đơn giản là « Chimène Badi hát nhạc Piaf », vòng lưu diễn này sẽ khai mạc tại nhà hát Olympia, vào ngày 22 tháng Giêng năm 2023. Đúng một thập niên sau album chuyên đề « Patricia Kaas hát nhạc Piaf », nay đến phiên Chimène Badi hát lại những giai điệu quen thuộc nhất của Édith Piaf, với những bản phối mới, tân kỳ hơn trong lối hòa quyện pop và soul, vốn là sở trường của giọng ca này. Sau khi ra mắt album cách đây ba năm, Chimène Badi đã vắng bóng sân khấu Pháp một thời gian. Nhưng thật ra cô lại khá bận rộn với công việc hợp tác ghi âm tại Đức (với nhà sản xuất Alex Christensen), đồng thời cô làm giám khảo trong cuộc thi hát truyền hình The Voice, phiên bản của Bỉ. Trên sân khấu, Chimène Badi đã nhiều lần hát lại nhạc Piaf, chẳng hạn như nhân kỳ biểu diễn gây quỹ trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris sau trận hỏa hoạn tháng Tư năm 2019. Quan trọng hơn nữa, trong khuôn khổ chương trình « Destination Eurovision », tức là vòng sơ tuyển cho cuộc thi hát truyền hình châu Âu, Chimène Badi đã ghi âm một bài song ca ảo, nhờ vậy mà được dịp hát chung với thần tượng của mình là Édith Piaf. Chuyển thể cuộc đời của Édith Piaf thành nhạc kịch Dự án đang gây nhiều ngạc nhiên nhất có lẽ là vở nhạc kịch tại Las Vegas về cuộc đời của Piaf với nữ ca sĩ Zaz trong vai chính. Từng được công bố cách đây ba năm, dự án đầy tham vọng này có mức đầu tư khá cao lên tới 50 triệu đô la và theo dự kiến sẽ diễn ra tại sòng bài The Mirage, khách sạn với hơn 3.000 phòng, nơi tổ chức các show biểu diễn trước đây của hai nhà ảo thuật Sigfried & Roy cũng như Gánh xiếc Mặt trời (Cirque du Soleil). Người đứng đằng sau dự án là nhà sản xuất kiêm diễn viên Thomas Langmann, con trai của đạo diễn lừng danh quá cố Claude Berri. Tại Hollywood, Thomas Langman nổi tiếng nhờ sản xuất tác phẩm « The Artist », bộ phim từng đoạt 5 giải Oscar, 6 César và 7 Bafta. Nhà sản xuất Thomas Langman tình cờ khám phá giọng ca của Zaz trong tuyển tập tình khúc về Paris (phát hành năm 2014). Trước khi thành danh trong làng nhạc, Zaz đã có dịp hát nhạc Piaf rất nhiều (các bài « La Vie en Rose, La Foule, Dans ma rue » …) tại các trường dạy tiếng Pháp Alliance Française. Còn trên album chuyên đề Paris cô ghi âm lại nhạc phẩm « I Love Paris » của Cole Porter hay « Sous le Ciel de Paris » của Hubert Giraud, từng ăn khách năm 1954 qua giọng ca của Piaf, cho dù bà không phải là người ghi âm bản nhạc gốc. Phiên bản đầu tiên là vào năm 1951 của dàn nhạc Jacques Helian qua phần song ca của Claude Évelyne và Jean Marco. Tuy nhiên, dự án nhạc kịch về cuộc đời của Piaf đã gặp khá nhiều chậm trễ do dịch Covid-19 cộng thêm lịch biểu diễn dày kín của Zaz trong thời kỳ hậu phong tỏa. Điều đó không làm cho Thomas Langmann nản chí, nhà sản xuất Pháp đã tái khởi động dự án hồi mùa xuân năm 2022 và hy vọng thuyết phục phía đối tác Hoa Kỳ ký hợp đồng biểu diễn ba năm. Hy vọng là mọi chuyện kỳ này sẽ suôn sẻ tốt đẹp hơn. Cũng như Marion Cottillard đã từng hồi sinh nhân vật Piaf trong bộ phim tiểu sử trên màn ảnh lớn, nữ ca sĩ Zaz sẽ có trọng trách làm sống lại giọng ca Piaf trên sân khấu. Những giai điệu nhẹ nhàng không sợ đóng bụi thời gian, giờ đây lại thêm hơi ấm ngập tràn, qua những giọng ca nồng nàn.
    6/11/2022
    9:05
  • Micheal Bolton - “Ông ngoại” hát tình ca
    Hiếm có giọng ca vẫn miệt mài những bản tình ca ở tuổi U70 như Michael Bolton. Giọng tenor của thể loại soul, pop ballad từng suýt bỏ nghề do cuộc sống quá bấp bênh. Tuy nhiên, bản nhạc cover của nữ ca sỹ Laura Branigan hoàn toàn thay đổi cuộc đời Micheal. Bài hát thay đổi cuộc đời Micheal Bolton đã phải làm việc cật lực để trở thành ngôi sao ca nhạc. Ngôi sao sinh năm 1953 lớn lên tại bang Connecticut, Mỹ, biểu diễn từ năm 16 tuổi trên sân khấu với phong cách soft-rock. Song song với biểu diễn, ông cũng sáng tác khá nhiều cho các ca sỹ khác. Thời trẻ, Micheal rất nghèo túng, một vợ 3 con nhưng không thể xoay sở tiền mua thực phẩm và thuê nhà. Người vợ lúc đó hiểu tình cảnh nhưng Micheal không hề tiết lộ cho ba cô con gái về gánh nặng của cuộc sống mưu sinh. Nam nghệ sỹ sinh năm 1953 từng nghĩ tới việc từ bỏ con đường âm nhạc. Tuy nhiên, quyết định cover lại ca khúc đinh của Laura Branigan đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông. Bản nhạc gốc nằm trong album Branigan 2 sản xuất năm 1983 của nữ ca sỹ. Ông mua lại bản quyền thuộc về hãng BMI để hát lại. Không lâu sau, ông phát hành bản thu âm How am I supposed to live without you (Làm sao anh có thể sống thiếu em) dưới dạng đĩa đơn. Bài hát nhanh chóng lọt vào Top 100 Billboard và trụ hạng trong 23 tuần. Ca khúc trích trong album Soul Provider (1989) cũng lọt hạng 3 bảng xếp hạng và nằm trong Top 200 hơn 200 tuần liên tiếp. Bản nhạc như ngôi sao may mắn chiếu mệnh, giúp ông trở thành siêu sao ca nhạc, thoát khỏi cảnh khó khăn kéo dài. Hơn thế, nam nghệ sỹ giành được giải Grammy đầu tiên cho trình diễn pop xuất sắc nhất. Người tài trợ tâm hồn Thành công của How am I supposed to live without you tạo nên sự bứt phá ngoạn mục của Micheal trong cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Album Soul Provider ra mắt năm 1989 thành công ngoài mong đợi. Các ca khúc trong album đồng sáng tác với nhà soạn nhạc tài ba Dianne Warren và Desmond Child. Trong tâm trí khán giả, hình ảnh Micheal Bolton luôn đóng đinh với trang phục quần jeans, mái tóc dài và xù mỳ. Chất giọng không thể lẫn với các giọng nam khác nhờ độ cao, độ khàn và đặc biệt tràn đầy năng lượng. Chùm ca khúc như How can we be lovers, When I am back on feet again lọt vào Top 40 ca khúc được ưa thích. Hai năm sau, Micheal còn nổi tiếng hơn nhờ album Time, Love and Tenderness đạt thành công lớn về thương mại. Album tiêu thụ tới hơn 8 triệu bản tính riêng tại Mỹ. Thêm 1 lần nữa, ca khúc When a man loves a woman (Khi người đàn ông yêu một người đàn bà) cover lại bản nhạc của Percy Sledge lại đem đến tiếng tăm cho nghệ sỹ. Bản cover của Micheal còn nổi tiếng hơn cả bản gốc. Ca khúc nằm trong top ca khúc ưa thích nhất trong năm và đem lại thêm giải Grammy thứ hai cho nam ca sỹ. Tuy nhiên, ông cũng gặp rắc rối với vụ kiện tụng của nhóm Isley Brothers đối với ca khúc Love is a wonderful thing. Kết quả là đồng tác giả và hãng SONY phải trả hơn 5 triệu đô la từ lợi nhuận ca khúc do Micheal thể hiện cho nhóm Isley Brothers. Cho đến giờ, đây cũng là vụ kiện tai tiếng và số tiền phạt lớn nhất trong lịch sử âm nhạc. Một điều khá thú vị là Micheal không được lòng giới phê bình cho dù thành công về thương mại. Họ cho rằng Micheal không đủ thuyết phục để tái hiện tên tuổi nhạc soul tầm cỡ như Redding, Ray Charles hay Sledge. Nam nghệ sỹ ngay lập tức đáp trả bằng album Timeless : Classics gồm các bản hit nổi tiếng một thời. Album này lên hạng nhất Billboard nhờ tài năng chinh phục khán giả. Một lần nữa, Micheal gây tiếng tăm nhờ bản cover của ca khúc gắn với nhóm Bee Gees, To Love Somebody (Để yêu ai đó). Dường như càng đi ngược với giới phê bình, Michael Bolton càng thành công hơn về thương mại. Các ca khúc hát lại (cover) những tên tuổi khác lại mang tới may mắn cho sự nghiệp của Michael. Album The one thing (1993) tiếp tục khai thác ballad tình yêu với chất giọng tenor khỏe khoắn. Ca khúc đinh Said I loved you but I lied (Nói anh yêu em chỉ là lời nói dối) trở thành ca khúc biểu tượng. Bài hát nói về cảm xúc mạnh mẽ hơn cả tình yêu. Chất giọng có lửa và thép của Michael làm nên sức cuốn hút vượt thời gian của bản ballad. Tình bạn lớn với nhạc sỹ tài ba Diane Warren Thành công của Micheal Bolton không thể nhắc tới người bạn tri kỷ trong âm nhạc, Diana Warren. Nữ nhạc sỹ chính là tác giả bản nhiều hit gây dựng tên tuổi của Michael Bolton. Số lượng các sáng tác của Diane Warren mà Micheal Bolton thể hiện trên 30 ca khúc. Trong đó có các bản hit xuất sắc như Time, Love and Tenderness (Thời gian, tình yêu và sự dịu dàng), How can we be lover (Làm sao chúng ta có thể tiếp tục làm người tình), Completely (Trọn vẹn), This river (Con sông). “Khi Diana viết một bản nhạc tầm cỡ, cô ấy rất quan tâm, chăm chút tới nó. Cô ấy tìm cách nói chuyện với các nhà sản xuất để họ ghi âm cẩn thận, để họ biết chắc chắn bài đó sẽ là một bản hit”. Micheal Bolton luôn ghi nhận đóng góp của Diane cho sáng tác, tiếp thị sản phẩm âm nhạc trước khi có sự ra đời của mạng xã hội. Thú vị hơn nữa, Diane là người giúp Micheal Bolton biết cách tiếp thị và khuyếch trương tầm ảnh hưởng của mình. Cảm hứng cho thế hệ trẻ Micheal Bolton chính thức lên chức ông ngoại kể từ năm 2010. Hiện giờ là ông của 6 đứa trẻ, biểu tượng âm nhạc thập niên 1980-90 vẫn đầy nhiệt huyết với ca hát cũng như sáng tác. Tuy không còn mái tóc dài quen thuộc, hình ảnh Micheal Bolton với mái tóc ngắn bạch kim phản ánh được sự năng động của nghệ sỹ. Ông tham gia cuộc thi sáng tác nhạc American Song Contest năm 2022, đại điện cho quê hương bang Connnecticut với ca khúc Beautiful World (Thế giới tươi đẹp). Trước đó, giọng tenor còn kết hợp nhóm rap/hiphop Lonely Island cho ra mắt bản hit Jack Sparrow trong phim bom tấn Pirates of Caribbean (Cướp biển vùng Caribê). Bản nhạc có hơn 225 triệu lượt xem trên kênh Youtube. Bất ngờ hơn, Micheal từng hợp tác với nhiều nghệ sỹ trẻ, trong đó có Lady Gaga, người đồng sáng tác ca khúc Murder My Heart của ông. Giọng ca của Micheal Bolton chưa có dấu hiệu xuống dốc ở độ tuổi U70. Ông tìm kiếm sự hoài cổ cũng như yếu tố mới mẻ khác. Các dự án âm nhạc gần đây Michael quay trở lại với chất nhạc soul/R&B, những ca khúc nổi tiếng trong phim. Ngoài ra, Michael đã trình làng album nhạc kết hợp dàn nhạc giao hưởng vào năm 2019. Sức cuốn hút của nam nghệ sỹ trên sân khấu cũng không mấy thuyên giảm. Bất chấp đánh giá của giới phê bình, khán giả trung thành vẫn là ưu tiên hàng đầu của ngôi sao âm nhạc U70. (Theo Wikipedia, AllMusic)
    6/4/2022
    9:33
  • Nhạc Pháp lời Việt : ''Đêm huyền diệu'' của hai Lara
    Nhắc đến ''Nuit Magique'' có nghĩa là ''Đêm huyền diệu'', giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay tựa đề album nổi tiếng của Catherine Lara. Ca khúc chủ đề trích từ tập nhạc cùng tên đã giúp cho nữ ca sĩ kiêm tác giả ngự trị thị trường Pháp trong vòng 20 tuần liên tục, để rồi trở thành tình khúc ăn khách nhất mùa hè năm 1986. Nhạc phẩm ''Nuit Magique'' (Đêm huyền diệu) do Catherine Lara cùng sáng tác với Luc Plamondon và Sebastian Santa Maria đã nâng tầm diễn xuất của cô lên một bậc, nhờ giai điệu trữ tình mềm mại mà đem lại một âm sắc mới cho một giọng ca có sở trường hát nhạc rock. Sáng tác của Catherine Lara thường có lối hòa âm phối khí cực kỳ trau chuốt như bàn tay thợ kim hoàn mài dũa cho viên kim cương thêm sắc nét lộng lẫy (La Rockeuse de Diamants). ''Nuit Magique'' trở thành một trong những sáng tác tiêu biểu nhất dòng nhạc Pháp vào những năm 1980 và từng được tác giả Khúc Lan Việt hóa thành nhạc phẩm ''Đêm huyền diệu'' qua phần ghi âm của nam ca sĩ Don Hồ. Đêm huyền diệu của ''hai nghệ sĩ'' có tên Lara Năm 2022 đánh đấu đúng 50 năm sự nghiệp ca hát của Catherine Lara. Cô thành danh hầu như cùng thời với Véronique Sanson. Cả hai nữ nghệ sĩ đều cho ra mắt album đầu tay vào năm 1972 : ''Amoureuse'' của Véronique Sanson do Michel Berger thực hiện; còn ''Ad Libitum'' do Catherine Lara hợp tác với Daniel Boublil, đồng tác giả của vở nhạc kịch ''Les Misérables'' (Những người khốn khổ) rất ăn khách sau đó trên sân khấu nhạc kịch Anh Mỹ Broadway. Thật ra, Catherine Lara đã khởi nghiệp khá sớm. Sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Paris năm 21 tuổi (1966) với hai giải thưởng lớn dành cho tài nghệ chơi vĩ cầm và khiếu sáng tác nhạc thính phòng, Catherine Lara đã sáng lập một ban tứ tấu chuyên ghi âm hay đi biểu diễn cùng với các nghệ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ, trong đó có Françoise Hardy, Nana Mouskouri, Claude Nougaro, William Sheller hay Maxime Le Forestier. Trong nửa thế kỷ sự nghiệp, Catherine Lara đã ghi âm hơn 40 album đủ loại kể cả rock giao hưởng, bán cổ điển, nhạc dân tộc, nhạc kịch, nhạc phim, nhạc hòa tấu. Nhân dịp nửa thế kỷ sự nghiệp của Catherine Lara, bộ toàn tập ''Les années magiques'' được tái bản với nhiều ca khúc bổ sung, kể cả những phiên bản ít được phổ biến. Đêm huyền diệu cũng từng được giọng ca thần tượng Lara Fabian ghi âm lại trên album cover phát hành vào năm 2009 (''Toutes les femmes en moi'' gồm các bài hát tiếng Pháp, ''Every woman in Me'' tuyển tập bằng tiếng Anh). Lối diễn đạt điêu luyện của Lara Fabian với lối hoà âm khá mộc cũng gây nhiều ấn tượng và kể từ đó ''Nuit Magique'' được biết đến như ''Đêm huyền diệu'' của hai nghệ sĩ có chữ Lara trong tên và họ (họ của Catherine Lara và tên của Lara Fabian). 50 năm ngày thành lập ban nhạc ''Il était une fois'' Tuy không hẹn nhưng một bản nhạc tình khác cũng đáng được nhắc tới trong tuần này. Đó là nhạc phẩm ''J'ai encore rêvé d'elle'' (Ta lại mơ đến nàng) của ban nhạc Pháp ''Il était une fois'' (hiểu theo nghĩa Ngày xửa ngày xưa). Được thành lập vào năm 1972, tức cách đây đúng nửa thế kỷ, ban nhạc này gồm 5 thành viên (một nữ, bốn nam) nhưng quan trọng nhất vẫn là giọng ca chính Joëlle Morgensen người Mỹ gốc Đan Mạch và tay đàn ghi ta Serge Koolenn có hai dòng máu Pháp-Bỉ. Serge Koolenn thường hay sáng tác chung với tay trống Richard Dewitte, họ quen nhau từ thời còn nhỏ, đôi bạn lớn lên cùng xóm, cả hai đi học cùng trường. Đến khi trưởng thành, họ là những nghệ sĩ chuyên nghiệp thường đi biểu diễn chung với Michel Polnareff. Bài hát nổi tiếng nhất của nhóm này là bản song ca ''J'ai encore rêvé d'elle'' (Ta lại mơ đến nàng) lập kỷ lục số bán vào mùa hè năm 1975. Bản nhạc được xem như là phần ''hậu truyện'' của hai tình khúc ''Love me, please Love Me'' và nhất là ''L'Amour avec toi'' của Michel Polnareff (hiểu theo nghĩa trần trụi, dung tục nhất). Bản nhạc của Polnareff từng bị kiểm duyệt cho tới đầu những năm 1970, sau đó gợi hứng cho nhiều sáng tác khác : trong đó có ''Pour un Flirt'' của Michel Delpech (hiểu theo nghĩa Cho một lần hẹn hò tán tỉnh) và bài ''J'ai encore rêvé d'elle'' (Ta lại mơ đến nàng) của ban nhạc Il était une fois. Một trong những phiên bản ghi âm gần đây nhất là của Amaury Vasili hát chung với Barbara Opsomer, với lối diễn đạt khá lãng mạn trữ tình nhưng vẫn chưa nóng bỏng ướt át bằng bản gốc, phần lớn cũng vì Joëlle Morgensen và Serge Koolenn ngoài việc hát chung trên sân khấu, còn là đôi tình nhân sống chung ở ngoài đời. Ban nhạc Il était une fois thành công với 4 album nhưng cuối cùng vẫn tan rã khi cặp nghệ sĩ này quyết định chia tay sau 7 năm hoạt động. Từ năm 1979 trở đi, Serge Koolenn đi hát solo cho tới khi anh nhận tin Joëlle đột ngột qua đời dù chỉ mới 29 tuổi. Năm 2022 đánh đấu cùng lúc hai sự kiện : 50 năm ngày khai sinh nhóm Il était une fois và 40 năm ngày giỗ của cô ca sĩ Joëlle Morgensen. Nhạc phẩm ''J'ai encore rêvé d'elle'' cho tới giờ vẫn chưa được phóng tác sang tiếng Việt, cho dù giai điệu nghe khá lọt tai. Trong số 5 thành viên ban đầu của nhóm, cả hai giọng ca chính đều đã qua đời (Joëlle Morgensen vào năm 1982, Serge Koolen vào năm 2015) khiến cho nhóm này khó thể nào tái hợp. Tuy phần kết (của ban nhạc Il était une fois) không có hậu như trong chuyện cổ tích đêm mưa, nhưng giai điệu ''thần tiên'' vẫn chưa già từ cái thuở Ngày xửa ngày xưa …..
    5/28/2022
    9:00

Über TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ ÂM NHẠC, Hitradio Ö3 und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.at-App

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ ÂM NHẠC: Zugehörige Sender