Radio Logo
RND
Höre {param} in der App.
Höre TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM in der App.
(7.565)(6.472)
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
StartseitePodcastsNachrichten
TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Podcast TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Podcast TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

hinzufügen

Verfügbare Folgen

5 von 24
  • Tạp chí tiêu điểm - Úc phá vỡ hợp đồng với Pháp để đổi chiến lược chống Trung Quốc
    Có lẽ ngày 16/09/2021 (theo giờ Úc) cũng đã nhẹ nhàng trôi qua như bao ngày khác, nếu như Úc - Mỹ - Anh không công bố hiệp ước quốc phòng mang tên AUKUS, với việc cho phép Úc có được hạm đội tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân. Điều này cũng có nghĩa là hợp đồng mua tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel - điện do Pháp thiết kế sẽ bị hủy bỏ. Tại sao chính phủ Morrison lại làm điều này ? Có chăng sự bội tín từ Canberra đã làm nội các Paris nổi giận và có ảnh hưởng lên mối quan hệ đôi bên ? Phản ứng từ Bắc kinh trước tầm nhìn chiến lược mới của Úc ra sao ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn của RFI Tiếng Việt với luật sư - nhà báo Lưu Tường Quang*. ********** RFI Tiếng Việt trước hết xin cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn. Nếu nhìn một cách bao quát trên cục diện địa chính trị, chiến lược Tam cường AUKUS cùng với việc Úc mua tàu ngầm năng lượng hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt thế nào ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Trong bối cảnh địa lý chính trị mới, mối đe dọa từ Trung Quốc mỗi ngày một gia tăng, đặc biệt tại Biển Đông. Do đó lãnh tụ Mỹ, Anh và Úc đã mật đàm nhiều tháng trong và sau Hội nghị Thượng Đỉnh G7 tại Vương Quốc Anh hồi tháng 6/2021. Kết quả, liên minh chiến lược gọi là AUKUS được công bố cùng một lúc tại ba thủ đô ngày 16/9 bởi thủ tướng Úc Scott Morrison, thủ tướng Anh Boris Johnson và tổng thống Mỹ Joe Biden. Cả thế giới, bạn cũng như thù, Bắc Kinh cũng như Paris, đều ngạc nhiên trước diễn tiến này. Mặc dầu chính phủ Pháp đã nhận được thông báo nhiều giờ trước, nhưng Paris đã không coi là “tham khảo” đúng nghĩa và theo đúng nguyên tắc bang giao quốc tế. AUKUS là một liên minh chiến lược dài hạn, mà dự án đầu tiên và có lẽ quan trọng nhất là Mỹ, Anh sẽ trợ giúp Úc trong việc xây dựng hạm đội 8 chiếc tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân. Hậu quả, dự án hợp tác 12 tàu ngầm quy ước trị giá 90 tỷ Úc kim (tương đương với 66 tỷ Mỹ kim và 50 tỷ euro) mà Pháp và Úc đã ký kết năm 2016 bị hủy bỏ. Thỏa hiệp song phương Pháp - Úc đã tiến vào thời điểm chốt mà mỗi bên đều có thể hủy bỏ. Trái lại, nếu Úc không dứt khoát và để thời điểm này trôi qua, hợp đồng sẽ khó có thể hủy bỏ hoặc là việc hủy bỏ sẽ quá tốn kém, nên không còn cơ hội nào tốt bằng chính thời điểm này. AUKUS có ý nghĩa đặc biệt, vì đây là lần đầu tiên Mỹ chia sẻ kỹ thuật nguyên tử tối mật với một đồng minh, ngoại trừ Vương Quốc Anh 60 năm trước đây. Nước Úc cam kết sẽ tuân thủ quy định không phổ biến vũ khí nguyên tử theo Hiệp ước Quốc tế NPT. Và cũng không kém phần quan trọng về mặt chính trị quốc nội, đó là Úc sẽ không chế tạo và sử dụng vũ khí nguyên tử. Tổng thống Biden và thủ tướng Morrison đều đã nhấn mạnh khi loan tin về sự thành lập AUKUS: 8 chiếc tàu ngầm này sẽ sử dụng năng lượng hạt nhân, nhưng sẽ không được trang bị vũ khí nguyên tử. Tuy vậy, hạm đội mới này cho thấy Úc đang thay đổi tư duy về vai trò của mình trong liên minh với các quốc gia tự do dân chủ. Đặc biệt hơn nữa là thế đứng của Úc trước sự trỗi dậy quân sự của Bắc Kinh. RFI : Như ông đã nói, việc chính quyền thủ tướng Scott Morrison thực hiện dự án đầu tiên của AUKUS cũng đồng nghĩa hợp đồng đóng tàu ngầm hàng chục tỷ đô la Úc với Pháp sẽ bị hủy. Trong khi, Pháp là một đồng minh thân hữu, một đối tác chiến lược quốc phòng quan trọng của Úc. Điều này có được coi như là một sự bội tín theo cách cáo buộc từ Paris, hay đây là kết quả tất yếu đã được dự báo trước qua các lần thương thảo đôi bên ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Chính phủ Pháp tỏ ra giận dữ và cay đắng trước diễn tiến mới này, không những về mặt nội dung, mà còn về phương cách “tham khảo” và thông báo quyết định mà Pháp coi là rất vụng về. Sau nhiều lần thương lượng gay go, chính phủ Pháp và Úc đã ký thỏa hiệp năm 2016. Theo đó, Pháp (thoạt đầu do Tổng Công Ty DCNS và tiếp theo là do Naval Group, một Tổng Công ty quốc doanh) sẽ xây dựng 12 chiếc tàu ngầm tấn công “attack submarines” thuộc lớp Barracuda. Lúc bấy giờ, chính phủ Úc có thể chọn loại Barracuda chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc Barracuda theo quy ước, tức là sử dụng diesel-electric. Úc đã lầm lẫn và gây ra sự chậm trễ khi chọn Barracuda quy ước. Hai nước phải thương thuyết lại nhiều lần và đã có lúc thỏa hiệp có nguy cơ bị bãi bỏ. Và gần đây nhất, các cuộc thảo luận này diễn ra ở cấp cao nhất là giữa thủ tướng Morrison và tổng thống Emmanuel Macron. Sau khi tham dự Hội Nghị Thượng đỉnh G7 tại Anh hồi tháng 6, tức là khi mật đàm tam phương đã bắt đầu, phái đoàn thủ tướng Morrison công du Pháp và được tổng thống Macron tiếp đón tại điện Elysée. Dự án tàu ngầm Pháp - Úc được thảo luận. Theo lời đại sứ Pháp tại Canberra, ông Jean-Pierre Thebault (nhân vật có mặt tại cuộc gặp gỡ này), thủ tướng Morrison đã nêu lên quan ngại của Úc về chính sách và hành động của Bắc Kinh tại Ấn Độ - Thái Bình Dương và Úc phải có quyết định thích hợp để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Chính phủ Pháp có thể đã không giải thích phát biểu của ông Morrison như là một thông báo rằng Canberra sẽ thay đổi dự án đóng tàu. Hoặc nếu chính phủ Pháp đã giải thích đúng ý định của thủ tướng Morrison, sự hoài nghi này có thể đã bị đánh tan, bởi vì khoảng 3 tuần lễ trước khi công bố AUKUS, ngoại trưởng Úc Marise Payne hoặc/và bộ trưởng Quốc Phòng Úc Peter Dutton đã xác nhận với các bộ trưởng đồng nhiệm Pháp là dự án Barracuda không có gì thay đổi. Phản ứng bất mãn mạnh mẽ của Pháp không những đã được diễn đạt bằng lời, mà còn bằng hành động. Ngoại trưởng Pháp, Le Drian mô tả hành động của Úc và Mỹ là “một nhát đâm sau lưng” của một đồng minh. Bộ trưởng Quân Lục Pháp Florence Parly tố cáo Úc đã phản bội, làm mất lòng tin giữa hai nước. Nhưng quan trọng hơn cả, tổng thống Pháp Macron nói rằng, hành động của tam cương Mỹ - Anh - Úc là không thể chấp nhận được giữa các đồng minh. Ông Macron còn tố cáo tổng thống Mỹ Biden đã phá hoại dự án tàu ngầm của Pháp và Úc. Bên cạnh đó, chính phủ Pháp đã triệu hồi đại sứ Pháp tại Washington và đại sứ Pháp tại Canberra về nước “để tham khảo ý kiến”. Đây là hành động và ngôn ngữ thông thường khi một chính phủ muốn hạ giảm mức độ bang giao với một chính phủ khác. Tại Washington, tòa đại sứ Pháp hủy bỏ một lễ kỷ niệm 240 năm hải quân Pháp trợ giúp hải quân Mỹ đánh bại hải quân Anh trong cuộc chiến dành độc lập của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, có lẽ quan trọng hơn hết là chính sách của Paris đối với Bắc Kinh. Trong vài năm gần đây, chính phủ Pháp đã gia tăng sự hiện diện hải quân tại vùng Đông Nam Á, và năng động hơn cùng với các đồng minh Âu - Mỹ trước sự bành trướng của Bắc Kinh. Nếu vì lý do AUKUS mà Paris trở nên thụ động hơn trong chính sách đối trọng với Trung Quốc, đó sẽ là điều không may cho cả Úc (và Việt Nam) trong vấn đề Biển Đông. Ngoài ra, Pháp là một thành viên rất quan trọng trong khối Liên Âu mà Úc đang thương thuyết hiệp định tự do thương mại FTA. Mặc dầu Liên Âu đã xác nhận AUKUS sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực cho tiến trình đàm phán FTA, nhưng không ai có thể tiên liệu việc gì sẽ xảy ra. Điều mà chúng ta có thể tiên liệu, và chính phủ Úc cũng sẵn sàng, đó là Pháp sẽ đòi bồi thường thiệt hại lên đến nhiều tỷ đô la. Cả hai chính phủ vào một lúc nào đó sẽ phải tạo lại hòa khí, nhưng tiến trình này có thể mất nhiều năm. RFI : Có những nguyên nhân khả dĩ nào để giải thích cho hành động chuyển hướng mang tính bùng nổ này của Canberra, thưa ông ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Từ sau Thế chiến Thứ hai, Úc theo đuổi chính sách phi nguyên tử. Cụ thể, Úc không nỗ lực chế tạo vũ khí nguyên tử, cũng như không năng động tạo dựng một kỹ nghệ nguyên tử tại Úc, thí dụ như sử dụng nguyên tử nặng vào lĩnh vực năng lượng mà nước Úc cần. Mặc dầu về mặt tài nguyên, Úc rất giàu có với khối lượng uranium đáng kể. Bởi thế, AUKUS được coi là một sự xoay chiều quan trọng lần đầu tiên xảy ra trong hàng mấy thập niên qua. Chính phủ Úc không nhìn AUKUS từ góc cạnh kinh tế, mà hoàn toàn về mặt chiến lược an ninh quốc phòng. Thủ tướng Morrison nói rằng mục tiêu chiến lược của Úc không thay đổi, tức là bảo vệ chủ quyền, độc lập và giá trị tự do dân chủ cho nước Úc, đặc biệt là đối với các đại cường. Thế nhưng, theo đánh giá của chính phủ Úc, bối cảnh chiến lược đã thay đổi trong thực tế. Đó là sự đe dọa mỗi ngày một gia tăng từ Trung Quốc, với sự trỗi dậy không hòa bình về mặt kinh tế và quân sự. Do đó, dù không thay đổi mục tiêu chiến lược, nước Úc cần phương tiện tân tiến hơn để theo đuổi mục tiêu chiến lược ấy (Thủ tướng Úc Morrison đã nói “We do not change our mind, but we need a new tool”). Đó là lý do vì sao Úc cần có hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân có rất nhiều lợi thế so với tàu ngầm quy ước, vì nó có khả năng lặn sâu rất lâu, hoạt động trong một vùng địa lý rộng lớn hơn và vận hành rất êm,nên khó có thể bị phát hiện. Tàu ngầm hạt nhân cũng ít khi cần phải nổi lên mặt nước, nên không dễ bị tấn công. Nhưng ngược lại, tàu ngầm hạt nhân cũng bị tai nạn và điều này đã xảy ra nhiều lần trong các hạm đội Mỹ, Anh, Nga, v.v… Một bất lợi khác cho Úc là thiếu chuyên viên kỹ thuật và nguồn nhân lực phục vụ hạm đội tàu ngầm. Còn nhiều yếu tố quan trọng khác mà vào thời điểm này chưa được tiết lộ là tổng phí của hạm đội tàu ngầm này. Sau 18 tháng nghiên cứu và thảo luận giữa các chuyên viên Mỹ - Anh - Úc, người ta chưa biết tàu ngầm sẽ được xây dựng như thế nào và tại đâu, cũng có thể tại Mỹ và một phần tại Adelaide, tiểu bang Nam Úc. RFI : Ngoài nước Pháp, theo ông, tại sao Trung Quốc cũng có phản ứng tiêu cực mạnh mẽ và thái độ của Bắc Kinh đối với Canberra sẽ như thế nào ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Bắc Kinh cũng chỉ trích mạnh mẽ Thỏa hiệp Tam cương AUKUS, bởi Bắc Kinh hiểu rằng, Trung Quốc là lý do chính của sự hình thành hợp tác chiến lược này, mặc dù lãnh tụ ba nước thành viên không hề nhắc đến Trung Quốc, khi công bố cũng như khi trả lời phỏng vấn. Ba lãnh tụ không lạ gì với phản ứng của Bắc Kinh. Trong khi đó, Pháp là quốc gia duy nhất bên ngoài AUKUS mà tổng thống Joe Biden nhắc đến, với sự ca ngợi quan hệ đồng mình chặt chẽ với Mỹ. Chắc hẳn ông Biden cũng dự đoán được phản ứng từ Paris. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao, Triệu Lập Kiên, như thường lệ, đả kích ba thành viên AUKUS là hãy còn "tư duy lỗi thời của thời Chiến tranh lạnh" và họ sẽ gây thiệt hại cho chính họ. Bắc Kinh còn đổ trách nhiệm vào ba nước AUKUS về một cuộc chạy đua vũ trang, tạo bất ổn cho toàn thế giới. Hoàn Cầu Thời Báo, cơ quan ngôn luận diều hâu của Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh, còn táo bạo hơn khi xác quyết rằng trong bất cứ cuộc chiến nào, nếu xảy ra, Bắc Kinh sẽ chiến thắng. Tại Úc, viễn cảnh một cuộc tấn công từ phía Trung Quốc, đặc biệt từ các căn cứ ở Biển Đông, là một đề tài thường xuyên được thảo luận giữa các chuyên gia và chính giới. Cựu thủ tướng Paul Keating và cựu thủ tướng Kevin Rudd, cũng như Giáo sư Hugh White, một chuyên gia về an ninh quốc phòng vẫn thường lập luận rằng, về mặt chiến lược, nước Úc nên tiến gần với Bắc Kinh, hơn là duy trì quan hệ chặt chẽ như hiện nay với Mỹ. Hai cựu lãnh tụ Đảng Lao Động còn e ngại rằng, nguy cơ bị tấn công từ Bắc Kinh sẽ gia tăng vì Úc là thành viên của AUKUS. Tuy vậy, đây chỉ là quan điểm thiểu số. Trong khi đó, đa số dân chúng và phần lớn chính giới Úc vẫn ủng hộ quan hệ đồng minh giữa Úc và Hoa Kỳ mà nền móng đã được đặt trên Hiệp định hợp tác quốc phòng ANZUS 1951. ANZUS là chiếc dù bảo vệ của Mỹ trước mối đe dọa thường xuyên của Trung Quốc. Và nay AUKUS tạo cơ hội cho Úc có khả năng đóng góp hữu hiệu hơn với tư cách là thành viên của khối các quốc gia tự do dân chủ. Có thể là một lập luận nghịch lý, nhưng khi nước Úc mạnh mẽ hơn về mặt quân sự trong một liên minh chiến lược mạnh mẽ hơn, nguy cơ một cuộc chiến với Trung Quốc sẽ giảm, vì cuộc chiến mà Bắc Kinh gây ra sẽ vô cùng tốn kém cho Trung Quốc. Đó là hậu quả của một thế chiến lược trên nền tảng quân bình sức mạnh quân sự gọi là deterrence. Trong khi đó, nếu Úc bị đe dọa tấn công (kể cả bằng vũ khí nguyên tử), đôi lúc Canberra cũng có thể tạo áp lực ngược lại. Trung Quốc nộp đơn xin gia nhập Hiệp định Tiến bộ và Toàn diện Hợp tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nhưng Bộ trưởng Thương mại Úc Dan Tehan đã cảnh báo, Canberra có thể bác đơn này. Một quốc gia chỉ có thể gia nhập CPTPP khi được tất cả thành viên đương nhiệm đồng thuận. RFI : Rõ ràng kế hoạch chế tạo hạm đội tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân là một sự thay đổi lớn nhất trong định hướng chiến lược và quốc phòng của Úc trong nhiều thập kỷ. Đây được coi như một phần của mối quan hệ đối tác lịch sử với Mỹ và Anh nhằm chống lại sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Tuy nhiên, liệu kế hoạch này có ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa Úc và Pháp, cũng như với các đối tác thường xuyên khác hay không ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang :Chính phủ Úc đã công khai tuyên bố sẵn sàng thảo luận với Pháp để giải quyết khác biệt sau khi thỏa hiệp song phương bị hủy bỏ. Mặc dầu ở thời điểm này, chính phủ Úc từ chối xin lỗi (qua phát biểu của bộ trưởng Quốc phòng Úc, Peter Dutton). Thế nhưng, trong bang giao quốc tế, lời xin lỗi có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nước Pháp cũng có thể trừng phạt kinh tế đối với Úc qua tiến trình thảo luận Hiệp định FTA với Liên Âu, nhưng để làm được điều này, trước hết Pháp cần phải thuyết phục 26 thành viên Liên Âu còn lại. Có thể nêu một vài phản ứng khác, trước hết là từ các nước láng giềng gần gũi. Mặc dù có quan hệ rất chặt chẽ về mặt kinh tế và hợp tác quốc phòng với Úc, New Zealand sẽ tiếp tục duy trì chính sách phi nguyên tử và không cho phép tàu chiến nguyên tử đến New Zealand. Trong khi đó, Indonesia không chính thức chống đối AUKUS, nhưng cũng bày tỏ quan ngại trước viễn tượng nước Úc có hạm đội tàu ngầm hạt nhân trong vòng 20 năm sắp tới. Vì lập trường này của Indonesia, thủ tướng Morrison đã phải hủy bỏ chuyến công du đến Jakarta. Ngoài ra, Malaysia cũng đã bày tỏ phản ứng tương tự như Indonesia. Trong khi đó, Việt Nam hình như chưa có phản ứng chính thức và công khai. Trên nguyên tắc, một nước Úc mạnh mẽ hơn và có ảnh hưởng nhiều hơn tại Biển Đông cũng có thể coi là thuận lợi cho Việt Nam. Vào thời điểm này, Singapore và Philippines là quốc gia Đông Nam Á có phản ứng tích cực với sự hình thành của AUKUS. RFI Tiếng Việt cảm ơn Luật sư-nhà báo Lưu Tường Quang. ********** * Ghi chú: Luật sư - Nhà báo Lưu Tường Quang có mối quan tâm đặc biệt đến các vấn đề chính trị, ngoại giao tại Úc và các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ông là cựu Trưởng nhiệm SBS Radio (Head of SBS Radio), một cơ quan truyền thông đa văn hóa  của Úc Châu.
    9/23/2021
    11:26
  • Tạp chí tiêu điểm - Liệu Anh Quốc có đủ phương tiện để chuyển trục qua Ấn Độ-Thái Bình Dương ?
    Ngày 04/09/2021, hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth của Hải Quân Hoàng Gia Anh ghé thăm cảng quân sự Yokosuka của Nhật Bản. Đây cũng là chặng dừng cuối cùng trước khi tham gia cuộc tập trận đầu tiên với các đồng minh trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Với những chiến dịch này, phải chăng Anh Quốc đang định hình những mục tiêu chiến lược mới cho tầm nhìn « Global Britain » được công bố hồi tháng 3/2021 ? Hãng tin Anh Reuters ngày 06/09/2021 cho rằng sự kiện hàng không mẫu hạm Anh lần đầu tiên cập cảng quân sự Nhật Bản sau một thập niên « đánh dấu bước khởi đầu một sự hiện diện quân sự thường trực tại một vùng đang nỗ lực kềm hãm đà đi lên thành cường quốc của Trung Quốc. » « Global Britain » : Tham vọng cường quốc của Luân Đôn Đương nhiên, trước những thông tin này, Bắc Kinh đã nhanh chóng có phản ứng. Phiên bản tiếng Anh của tờ Hoàn Cầu Thời Báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã có lời mỉa mai cho rằng Luân Đôn đã có những tuyên bố « phóng đại », « cường điệu ». Bởi vì « sự hiện diện thường trực quân sự » đó của Hải Quân Anh chỉ là để lại hai chiếc tầu tuần tra « khả năng chiến đấu thấp », không được trang bị tên lửa, sau khi hàng không mẫu hạm rời khu vực. Vẫn theo trang mạng này, « Vương Quốc Anh thời kỳ hậu Brexit có tham vọng « Global Britain » (tạm dịch là Nước Anh toàn cầu) và đang nỗ lực thực hiện giấc mơ này. Đó chẳng qua là vì Anh Quốc xem Ấn Độ - Thái Bình Dương như là một trung tâm kinh tế và tâm điểm của trò chơi quyền lực lớn. Chính vì điều này mà Anh Quốc quyết tâm chứng tỏ sự tồn tại và vai trò của mình trong khu vực. » Câu hỏi đặt ra : Anh Quốc thật sự muốn gì khi gởi hàng không mẫu hạm đến Ấn Độ - Thái Bình Dương ? Liệu nước Anh có đủ phương tiện để thực hiện những tham vọng như Trung Quốc chỉ trích ? Đối với nhà nghiên cứu Georgina Wright, phụ trách chương trình châu Âu, Viện Montaigne, trước hết việc HMS Queen Elizabeth đến thăm Nhật Bản và tham gia tập trận với các đồng minh Mỹ, Nhật, Hàn và Úc là không chỉ mang tính biểu tượng cao, mà còn xác định mối quan tâm của Luân Đôn đối với khu vực. Hồi tháng Ba năm 2021, chính phủ Anh Quốc đã cho công bố một tập tài liệu dài 114 trang, có tựa đề « Global Britain in a Competitive Age ». Bản « tầm soát tổng thể về an ninh, quốc phòng, phát triển và đối ngoại » này, lần đầu tiên đưa ra khái niệm về tầm nhìn « Global Britain » (Nước Anh trên toàn cầu), nhằm khẳng định tham vọng cường quốc thế giới của Luân Đôn. « Sách Trắng » quốc phòng này của Anh, như cách gọi của nhiều chuyên gia, ấn định những ưu tiên địa lý mới, khi cho chuyển trục sang vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Chính phủ thủ tướng Boris Johnson đánh giá khu vực này sẽ là « tâm điểm địa chính trị mới của thế giới ». Nếu như mối quan tâm này của nước Anh đối với khu vực được thể hiện rõ qua việc cụm từ « Ấn Độ - Thái Bình Dương » được đề cập đến hơn 30 lần trong Sách Trắng và được nhắc rất nhiều trong nghị trường Anh, thì chuyên gia về châu Âu, bà Georgina Wright, trên đài France Culture, nhận thấy rằng Anh Quốc hiện vẫn chưa có một chiến lược rõ ràng trong khu vực này. « Thật ra điều này chẳng có gì là ngạc nhiên cả. Đây là một khu vực mà đối với Luân Đôn có một vị trí mỗi lúc một lớn trên phương diện kinh tế và an ninh, nhất là do sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thế nên, người ta mới thấy chiếc HMS Queen Elizabeth trong vùng. Dù sao đi nữa, tôi cũng cho rằng Anh Quốc vẫn còn lâu mới có một chiến lược cụ thể đối với vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Vẫn còn một câu hỏi lớn được đặt ra trong nội bộ Nghị Viện Anh: Một cách cụ thể, việc có một sức mạnh, một sự hiện diện trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương có ý nghĩa gì ? Và ngoài việc gởi chiếc hàng không mẫu hạm đến đó, quý vị sẽ phải làm gì nữa ? » « Global Britain » và chiến lược tái bố trí ngân sách Trở lại với những mỉa mai của tờ Global Times, bài viết còn cho rằng chính sách « hiện diện quân sự thường trực ở Ấn Độ - Thái Bình Dương » của Anh khó mà trụ được lâu dài do nguồn ngân sách và công nghệ hạn hẹp. Hải Quân Anh không thể triển khai dài hạn bất kỳ tầu sân bay nào trong số hai chiếc đang có ở nước ngoài.  Về điểm này, tờ Le Figaro của Pháp có nhắc lại, hồi tháng 11/2020, thủ tướng Anh đã thông báo tăng thêm 16,5 tỷ bảng Anh (22 tỷ đô la) trong bốn năm tới cho ngân sách quốc phòng. Đây là mức tăng cao nhất kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Thế nhưng, trong ngắn hạn, bộ Quốc Phòng Anh sẽ cắt giảm một tỷ bảng Anh vào năm 2022. Điều đó có nghĩa là quân đội Anh sẽ giảm bớt 10 ngàn binh sĩ, từ 80 xuống còn 70 ngàn quân nhân. Ngược lại, nhiều phương tiện bổ sung sẽ cho phép hiện đại hóa Royal Air Force, đầu tư vào Nghiên cứu và Phát triển và như vậy trả lại cho nước Anh vị thế cường quốc hải quân hàng đầu ở châu Âu. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc « không còn gởi binh sĩ thi hành nhiệm vụ ở nước ngoài thường xuyên và lâu hơn ». Một hình thức tái triển khai các phương tiện quân sự, theo như quan điểm của bà Georgina Wright. « Ở đây cho thấy có một chiếc lược mới trong chi tiêu quốc phòng của Nghị Viện Anh. Đúng là có một khoản cắt giảm lớn trong quân đội nhưng lại đầu tư nhiều trong công nghệ mới, mạng tin học. Trở lại với vấn đề Ấn Độ - Thái Bình Dương, chúng ta phải chờ xem để có thể biết được những tham vọng cụ thể cho khu vực này. Nhưng tôi tin rằng các đồng minh và các đối tác châu Âu trong khu vực sẽ tự hỏi : Điều đó có nghĩa là gì ? Đâu là các khả năng để thực thi các chiến lược đó ? Do vậy tôi cho là còn quá sớm để mà đưa ra các đánh giá ! » Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh nên « dàn xếp » Vậy, trong tầm nhìn mới này, Anh Quốc có cái nhìn như thế nào về Trung Quốc ? Trái với Nga, vẫn bị xem như là kẻ thù chính yếu, thậm chí còn bị xếp vào diện « mối đe dọa tích cực », nước Anh của thủ tướng « Bojo » tỏ ra dè dặt hơn với Bắc Kinh. Trong báo cáo, Trung Quốc được mô tả như là một « thách thức hệ thống » hơn là một « kẻ thù truyền kiếp », bất chấp những căng thẳng giữa hai nước trong các hồ sơ Hồng Kông, người Duy Nghô Nhĩ, hay mạng 5G. Vì sao Anh Quốc có thái độ « hòa dịu » như vậy với Trung Quốc ? Chuyên gia về châu Âu, Viện Montaigne giải thích : « Điểm đáng ngạc nhiên ở đây là Luân Đôn có một lập trường về Trung Quốc rất gần gũi với Liên Hiệp Châu Âu hay nhiều nước châu Âu khác. Nhất là người ta có thể hợp tác với Trung Quốc để đối phó với những vấn đề lớn của thế giới như biến đổi khí hậu. Người ta khó thể phớt lờ và phải phối hợp với Bắc Kinh. Nhưng bên cạnh đó, cũng phải có một sự cứng rắn, mạnh mẽ về tất cả những gì có liên quan đến nhân quyền. Do vậy, tôi cho rằng Anh Quốc có một lập trường về Trung Quốc hòa dịu hơn so với Hoa Kỳ. » Nói một cách khác, nước Anh xem Trung Quốc như là một đối thủ cạnh tranh, nên biết « dàn xếp, điều đình ». Trước Quốc Hội, khi công bố chiến lược mới, ông Boris Johnson cảnh báo : « Những ai kêu gọi một cuộc chiến tranh lạnh với Trung Quốc hay tách biệt hoàn toàn nền kinh tế chúng ta ra khỏi Trung Quốc là đã bị nhầm : Chúng ta phải tìm kiếm một thế cân bằng và có một mối quan hệ sáng suốt với quốc gia này ». Anh chuyển trục từ Âu sang Á ? Nếu như trong báo cáo « Global Britain in a Competitive Age » vẫn nhấn mạnh đến vai trò « sáng lập » của NATO đối với chính sách quốc phòng và an ninh đất nước, Vương Quốc Anh dự tính triệt thoái các đội quân ra khỏi một số nước Bắc Âu, do việc chính quyền Luân Đôn đánh giá rằng nhiều nước khác, như Đức chẳng hạn, giờ đã có thể thay thế Anh Quốc. Câu hỏi đặt ra : Phải chăng với ý định này, Anh Quốc đang thật sự chuyển trục từ Âu sang Á ? Nhà nghiên cứu Georgina Wright tin rằng là chưa phải là lúc. « Khi đọc kỹ tài liệu này, đúng là Anh Quốc có tham vọng trở thành một cường quốc thế giới, nhưng trước hết đó phải là cường quốc châu Âu. Việc bảo đảm an ninh tại châu lục này vẫn là rất quan trọng. Chúng ta còn nhớ là Pháp đã 11 lần, Đức 7 lần nhắc đến việc xích lại gần hơn giữa NATO và Liên Hiệp Châu Âu, về sự hiện diện quân sự ở Sahel nữa. Khi nhìn thấy những gì diễn ra ở Afghanistan, người ta nghĩ là Anh Quốc sẽ hiện diện thường xuyên hơn, một cách tích cực hơn và sẽ tìm cách nói chuyện nhiều hơn với các đối tác châu Âu. Do vậy, tôi cho là đây chưa hẳn là một sự chuyển trục hoàn toàn sang Ấn Độ - Thái Bình Dương, đó mới chỉ là chuyện phát biểu mà thôi, còn phải chờ những việc được thực hiện trong những tháng, những năm sắp tới, để biết xem có những thay đổi quan trọng thực sự từ châu Âu sang châu Á hay không ? Riêng tôi, tôi cho rằng Anh Quốc vẫn cần châu Âu nhiều hơn là châu Á ». Trước những động thái này của Anh Quốc, Hoàn Cầu Thời Báo một mặt chế nhạo Luân Đôn vẫn còn bị giam hãm trong nỗi tiếc nuối về một thời kỳ ngoại giao bằng « họng súng », một thời kỳ đã qua. Mặt khác, Bắc Kinh cảnh cáo, Trung Quốc ngày nay không phải của 100 năm về trước và dọa rằng nếu Vương Quốc Anh dám có những hành động khiêu khích nào ở Biển Đông, những biện pháp đáp trả của Trung Quốc sẽ khiến nước này phải rút lấy kinh nghiệm về hậu quả của những hành động hấp tấp. Trước những thách thức to lớn như vậy, nhà nghiên cứu Georgina Wright tự hỏi, trên phương diện thực hành, đâu là những năng lực, nguồn lực để Vương Quốc Anh thực thi những chiến lược được vạch ra ? Đồng minh của nước Anh là ai ? Bởi vì ngay chính bản thân các nước đồng minh của Anh, do những hạn chế về khả năng và nguồn lực, cũng đang gặp khó khăn khi đưa ra các chọn lựa và những ưu tiên cụ thể !
    9/16/2021
    9:46
  • Tạp chí tiêu điểm - Vụ khủng bố 11/09/2001: Thất bại to lớn của tình báo Mỹ
    Ngày 11/09/2001, nước Mỹ rung chuyển vì loạt tấn công khủng bố thảm khốc nhất trong lịch sử đất nước. Gần 3.000 người chết và hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm sau, dư chấn vẫn còn đó, và người ta vẫn tự hỏi : Làm thế nào một kiểu khủng bố như vậy lại có thể xảy ra tại Hoa Kỳ, một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới ? 11/9/2001: « Cứ như một trận Trân Châu Cảng ! » Đó là một ngày thứ Ba định mệnh trong lịch sử nước Mỹ đương đại. Trong vòng chưa đầy hai tiếng, 19 tên khủng bố chiếm lấy 4 chiếc máy bay hàng không dân dụng Mỹ, tiến hành loạt tấn công tại ba điểm khác nhau : Tòa tháp đôi của World Trade Center ở New York, Lầu Năm Góc – trụ sở bộ Quốc Phòng Mỹ - và Shanksville tại Pennsylvania. Tấn thảm kịch này đã cướp đi 2.977 sinh mạng. Riêng tại tòa tháp đôi, con  số tử vong là 2.753 người, trong đó có 343 lính cứu hỏa và 60 cảnh sát, nhưng chỉ có 1.643 người là được nhận dạng.   Cả thế giới chấn động. Nước Mỹ bị tấn công. Cứ như một Trân Châu Cảng. Tổng thống Mỹ George W. Bush trên chiếc Air Force One rời Florida đến căn cứ quân sự Andrews ở ngoại ô Washington, khi quan sát Lầu Năm Góc từ trên cao, đã thốt lên : « Đây mới chính là diện mạo của cuộc chiến thế kỷ XXI ! ». Vì sao nước Mỹ - một cường quốc hàng đầu thế giới về quân sự cũng như là kinh tế lại không thể dự báo và ngăn chặn được cuộc tấn công thảm khốc đó ? Trong cuộc điều tra đặc biệt nhân kỷ niệm 20 năm tấn thảm kịch này, nhà báo Gregory Philipps của đài France Inter, qua các cuộc gặp gỡ với nhiều cựu nhân viên an ninh, tình báo Mỹ và một số chuyên gia Pháp, ghi nhận cả một hệ thống kẽ hở trong ngành an ninh, tình báo Mỹ vào thời điểm đó.   Al Qaida: Những chỉ dấu báo động đỏ Nhà báo nhắc lại, ba năm sau biến cố lịch sử này, năm 2004, ông Philip Zelikow, trong bản báo cáo của ủy ban điều tra Nghị Viện đã nêu rõ hai điểm yếu ngành an ninh Mỹ : Cuộc chiến chống khủng bố trước ngày 11/9 chỉ là một ưu tiên hạng ba đối với giới chức an ninh quốc gia và việc bảo vệ không phận Mỹ trong ngày bị tấn công chỉ được thiết lập một cách vội vã.  Điều khó hiểu là trước khi xảy ra vụ tấn công, đã có nhiều chỉ dấu báo động đỏ mối đe dọa khủng bố. Ngay từ giữa những năm 1990, Al Qaida, đặc biệt là Oussama Ben Laden, người thành lập tổ chức khủng bố này, đã nằm trong tầm ngắm của tình báo Mỹ. Nhiều vụ đánh bom tự sát được cho là do Al Qaida thực hiện nhắm vào người Mỹ và những cơ quan đại diện lợi ích Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới, đã xảy ra trong suốt giai đoạn này. Cụ thể:  Vụ khủng bố ở tầng hầm parking của World Trade Center năm 1993 làm 6 người chết, hơn 100 người bị thương.  Tháng Giêng năm 1995, an ninh Philippines phá vỡ âm mưu chuyển hướng hàng chục máy bay dân dụng của Mỹ trên Thái Bình Dương của Al Qaida, còn được gọi là « chiến dịch Bojinka ».  Năm 1996, vụ tấn công khủng bố tại khu phức hợp dân cư Dahran ở Ả Rập Xê Út làm 20 người chết, trong đó hết 19 người là công dân Mỹ, 400 người bị thương.   Ngày 07/08/1998, cuộc tấn công khủng bố kép nhắm vào hai tòa đại sứ Mỹ, một ở Nairobi, Kenya và một ở Dar es Salaam, Tanzania đã làm 224 người thiệt mạng, trong đó có 12 công dân Mỹ.  Trong tầm ngắm Ali Soufan, cựu điều tra viên của FBI, một trong số những người đầu tiên gióng chuông báo động ngay từ năm 1996 về mối đe dọa Al Qaida nhớ lại : « FBI đã bắt đầu theo dõi Al Qaida khá sớm. Từ năm 1996, 1997, chúng tôi đã chú ý đến Ben Laden. Vào thời điểm đó, nhiều người trong cơ quan tình báo kể cả bên an ninh liên bang chỉ nghĩ rằng Ben Laden là một nhà tài trợ, chứ không nghĩ là nhân vật này có khả năng chuyển sang cả hành động.  Tháng 8/1996, ông ta tuyên bố thánh chiến chống nước Mỹ. Chúng tôi nghĩ là nghiêm trọng, nhưng nhiều người khác thì không. Tháng 2/1998, ông ta phát ra một lệnh fatwa kêu gọi hạ sát người Mỹ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chúng tôi thực sự tin rằng việc này là nghiêm trọng, đến mức ngầm kết án vắng mặt Ben Laden vào tháng 6/1998. » Về điểm này, ông Philip Zelikow, có giải thích thêm như sau : « Quả thật những kẻ thực hiện vụ khủng bố ngày 11/9 đã tuyên chiến với nước Mỹ bằng một bản fax gởi đến Luân Đôn vào đầu năm 1998. Bức fax này đến từ một nhóm bí ẩn, nằm ở một nơi kém phát triển nhất của thế giới, ở phía nam Afghanistan. Trong suốt năm 2001, chúng tôi đã suy nghĩ nhiều : Nhóm khủng bố này làm gì ở Afghanistan ? Nhưng ý tưởng nước Mỹ đến xâm chiếm Afghanistan để bắt lấy những kẻ đó trước năm 2001 là điều không thể nhắm đến ! » Những kẽ hở Sau vụ tấn công này, nhiều câu hỏi được đặt ra. 19 tên khủng bố đó là ai ? Vì sao chúng không bị theo dõi ? Tại sao thông tin đồng phạm Mohammed Atta, từ Hambourg (Đức) đến Mỹ vào đầu mùa hè năm 2000, để học lái máy bay tại nhiều trường khác nhau Florida, Arizona và Minnesota đã không được chuyển đến Washington ? Trả lời câu hỏi nhà báo Gregory Philipps, nhà nghiên cứu, chuyên gia về các mạng lưới thánh chiến, ông Dominique Thomas, thuộc trường EHSS, đưa ra các nhận định : « Trước hết, một trong những lỗ hổng lớn của hệ thống dân chủ là tình trạng quan liêu, đôi khi còn thiếu cả sự phối hợp giữa các ban ngành khác nhau. Quý vị có thể có đủ hết các mảng ghép nhưng chúng lại nằm rải rác ở nhiều bộ phận khác nhau, và không có sự liên thông hay kết nối tồi (…)  Hơn nữa, tôi nghĩ rằng vào thời điểm đó, cơ quan FBI có quá ít chuyên gia đủ khả năng phân tích các mối đe dọa. Nếu như chúng ta không có người thạo tiếng Ả Rập, những người nắm rõ khu vực này, hiểu được hệ tư tưởng, cách nói chuyện, tâm lý của những nhân vật đó, thì đương nhiên quý vị thất bại trong cuộc chiến này thôi ! »  Ali Soufan là một ví dụ điển hình. Là người đầu tiên xác định được danh tính của Khaled Cheikh Mohammed, kẻ chủ mưu của loạt tấn công thảm khốc, nhưng Ali Soufan là một trong số hiếm hoi các nhà điều tra của FBI nói thạo tiếng Ả Rập, vì có gốc người Liban. Tình trạng này cũng xảy ra tương tự ở CIA. Ông nhìn nhận sự hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa là điều cốt lõi trong cuộc chiến chống khủng bố.  Chống khủng bố: Ưu tiên hạng ba, thất bại to lớn Bên cạnh việc thiếu hiểu biết về thế giới Ả Rập, thiếu sự liên thông giữa các ban ngành, báo cáo của ông Philip Zelikow cho ủy ban điều tra nghị viện Mỹ còn nêu rõ trách nhiệm của ngành tình báo Mỹ trước ngày 11/9, chưa bao giờ xem xét nghiêm túc mối họa khủng bố. Cuộc chiến chống khủng bố chỉ là ưu tiên thứ yếu của an ninh Mỹ thời đó, theo như giải thích của ông Mathhew Levitt, chuyên gia về chống khủng bố, với nhà báo Gregory Philipps.  « Giờ nghĩ lại người ta chợt nhận thấy có điều gì không ổn, khó tin và cảm thấy đau đớn. Vào lúc đó có quá nhiều thông tin để xử lý, các nhân viên an ninh làm việc như điên. Nhưng bộ phận chống khủng bố ở FBI lúc ấy bị ví như là thùng nấu quần áo, đó không phải là nơi để họ thăng tiến. Hoạt động chính của FBI là tập trung nhiều vào các vụ án hình sự. Làm việc cho bộ phận chống khủng bố, gián điệp thật sự không mấy gì được xướng tên trên bảng vàng. Phần lớn thời gian họ chẳng bắt được ai. Ngày nay, khi nói đến khủng bố là người ta nghĩ đến cả một mẻ lưới. Nhưng đó là một hiện tượng hậu 11/9 ».  Nhìn từ khía cạnh này, bà Valerie Plame, một cựu sĩ quan CIA, đánh giá : « Đây thật sự là một thất bại to lớn của các cơ quan tình báo Mỹ. Đó chẳng qua là do thiếu chút suy nghĩ về việc làm thế nào vụ khủng bố này có thể xảy ra. Loạt khủng bố này không tốn kém nhiều chi phí (khoảng nửa triệu đô la), chẳng cần nhiều sự huấn luyện (hai năm chuẩn bị). Những tên khủng bố này lại thoát được tầm theo dõi của FBI, cơ quan lẽ ra có trách nhiệm phải giám sát những đối tượng này.  Rồi CIA cũng có cả những thông tin nhập cảnh vào Mỹ của những nghi phạm này nữa. Làm thế nào chúng có thể thoát được sự giám sát đó ? Người ta đã phớt lờ các dấu vết của FBI. Họ đã phí quá nhiều thời gian, sức lực và năng lượng để tìm kiếm một sự mưu phản. Nhưng làm gì có sự mưu phản nào. Đó chẳng qua là sự chểnh mảng, lơ là của Mỹ mà thôi ! »  Gregory Philipps lưu ý, trước năm 2001, mối đe dọa khủng bố này được cho là « xa vời » đến mức người ta có thể mang theo cả dao rọc giấy hay một con dao nhỏ kích cỡ chưa tới 10 cm trong hành lý mà không phải lo lắng gì. Thậm chí, người thân có thể đưa hành khách đến tận cửa lên máy bay. Trước ngày 11/9, FAA – Cục Hàng không Liên bang Mỹ công bố một danh sách đen cấm một số người đáp máy bay, nhưng danh sách này chỉ có 12 tên, trong đó Cheikh Mohammed, một trong số đầu não của loạt khủng bố này.  Ben Laden và 10 năm truy nã Đương nhiên, lãnh đạo CIA lúc bấy giờ là George Tenet đã được báo động, Richard Clark – cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Bush có gióng chuông báo động về mối họa khủng bố Al Qaida. Dù vậy, những tên khủng bố « nằm vùng » trên đất Mỹ lại không được cảm nhận như là mối đe dọa quan trọng. Vì sao như vậy ? Ông Andrew Card, chánh văn phòng Nhà Trắng thời kỳ đó giải thích :  « Tổng thống Bush đã làm những gì ông ấy nên làm. Tôi đã đọc lại tất cả những bản báo cáo tình báo mà ông ấy đã xem qua. Và tôi còn nhớ có một bản báo cáo gây tranh cãi được đệ trình lên hồi tháng 8/2001, báo động rằng Al Qaida đang chuẩn bị làm điều gì đó với Ben Laden. Rồi sau đó cũng có lời đáp : Đúng vậy, họ muốn tấn công nước Mỹ nhưng không ai có thể dự đoán chính xác ngày xảy ra vụ khủng bố.  Ai có thể có được câu trả lời đúng ? Liệu chúng tôi có thể nào cấm các máy bay cất cánh trong ngày 11/9 hay không ? Giờ thì chúng ta biết được là những tên khủng bố đó đã khởi động vụ tấn công này trước đó vài ngày. Như vậy là chúng tôi đã có những thông tin sai và do vậy chúng tôi đã chọn nhầm ngày để chặn các chuyến bay. Giả như chúng tôi có cấm các chuyến bay trong ngày đó, trong vòng một tuần hay một tháng, điều đó sẽ tàn phá kinh tế đất nước. Quốc Hội rất có thể sẽ chất vấn chúng tôi : Các ông đang làm điều gì vậy ? Các ông không thể đóng cửa kinh tế đất nước như thế. Giờ thì chúng tôi hiểu rằng lẽ ra chúng tôi đã phải làm điều gì đó ! »  Sau vụ khủng bố này, quyền hạn của các cơ quan tình báo đã được mở rộng. Hơn 262 cơ quan liên bang đã được lập ra hay được điều chỉnh lại. Hơn 850 ngàn nhân viên được tuyển dụng tại Mỹ trong lĩnh vực thu thập tình báo có nguy cơ biến hệ thống này còn trở nên quan liêu hơn và khó thể kiểm soát.   Một điều hiển nhiên là các cơ quan an ninh Mỹ đã không thể phá vỡ vụ khủng bố ngày 11/09/2001. Và họ cũng đã phải mất đến 10 năm sau mới tìm ra được kẻ chủ mưu thực sự của loạt khủng bố này : Oussama Ben Laden !
    9/9/2021
    11:37
  • Tạp chí tiêu điểm - Afghanistan: Nguy cơ « dịch chuyển quyền xin tị nạn » ra ngoài Châu Âu
    Vào lúc chính sách tiếp nhận người tị nạn Afghanistan trong những ngày gần đây đang gây ra tranh cãi, thì quyền xin tị nạn hơn bao giờ hết cũng làm dấy lên nhiều nghi vấn. Đan Mạch và Anh Quốc thông báo muốn « dịch chuyển các đơn xin tị nạn » sang những trung tâm xử lý nằm ngoài khu vực châu Âu. Một hình thức ủy thác nguyên tắc bảo vệ người tị nạn ? Công ước Genève về quyền tị nạn đang bị « chà đạp » ? Công ước Geneve có còn giá trị sau 70 năm? Ngày 15/08/2021, Taliban trở lại cầm quyền sau 20 năm tiến hành thánh chiến. Còn Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây vừa vội vã rút quân, vừa hối hả đưa những người Afghanistan trốn tránh Taliban. Những hình ảnh hỗn loạn tại sân bay Kabul đập vào mắt mọi người khiến thế giới quên đi rằng năm nay là đúng 70 năm ngày Công ước Geneve về quyền tị nạn được ký kết, chính xác là ngày 28/07/1951. Bà Maria Arena1, nghị sĩ châu Âu người Bỉ, trên đài France Culture đã nhắc lại Công ước quy định : « Tất cả những ai gặp nguy hiểm tại nơi mình sinh sống và phải bỏ chạy khỏi đất nước đều có quyền được bảo vệ và người đó có quyền xin sự bảo hộ đó tại nơi nào mà họ muốn. Nghĩa là người đó có quyền tự do đi lại. Do vậy chúng ta không thể áp đặt nơi chốn nào họ phải xin sự bảo hộ đó », Những quyền này liệu có còn giá trị hay được tôn trọng, vào lúc phương Tây, nhất là nhiều nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu, trước những làn sóng di dân ồ ạt đã , cho di dời các trung tâm tị nạn sang các nước khác như Rwanda hay Erythréa? Nhật báo kinh tế Les Echos cho biết ngày 03/06/2021, Đan Mạch – một trong số các nước có chính sách di dân nghiêm ngặt nhất – đã thông qua một đạo luật cho phép nước này mở nhiều trung tâm cho những người xin tị nạn. Theo luật đó, những ai xin tị nạn tại Đan Mạch, một khi đơn xin được nhận – ngoại trừ một số trường hợp được miễn như bệnh nặng, họ sẽ được chuyển đến một trung tâm tiếp nhận nằm ngoài lãnh thổ Liên Hiệp Châu Âu. Luật cũng quy định, « nếu bị từ chối, người xin tị nạn buộc phải rời nước tiếp nhận. Ngay cả những ai được hưởng quy chế tị nạn cũng sẽ không được phép trở lại Đan Mạch, mà họ chỉ đơn giản có được quy chế tị nạn tại một nước thứ ba » mà Đan Mạch có ký kết thỏa thuận, theo như lưu ý của ông Martin Lemberg-Pedersen, chuyên gia về vấn đề di dân, trường đại học Copenhague. Và chính sách này dường như cũng được Anh Quốc quan tâm đến. Việt Nam : Bài học kinh nghiệm xử lý tị nạn từ xa ? Khủng hoảng Afghanistan đang làm dấy lên những cuộc tranh cãi về người tị nạn và quyền tị nạn. Cuối cùng rồi những người tị nạn Afghanistan sẽ đi về đâu ? Đến các nước châu Âu ? Hay đến Mỹ, nơi mà họ hy vọng làm lại cuộc đời ? Hay là bị đưa đến các nước thứ ba, những nước mà các quốc gia phát triển có ký kết những thỏa thuận như Rwanda hay Ouganda ? Luật gia Jean-Pierre Alaux2, cũng trên đài phát thanh France Culture khẳng định xu hướng quản lý và xử lý hồ sơ xin tị nạn từ xa này không chỉ đã bắt đầu từ châu Âu, mà Mỹ cũng có những hợp đồng tương tự: « Khoảng 51 người tị nạn Afghanistan đã được đưa đến lãnh thổ Rwanda theo đề nghị của Mỹ. Ngoài ra, Somaliland, Colombia…cũng có các thỏa thuận với Hoa Kỳ ». Tuy nhiên, giáo sư Gérard-François Dumont3, lưu ý rằng, về mặt bản chất, vấn đề di dân tự bản thân nó đã là một vấn đề nằm ngoài lãnh thổ. Và theo ông chí ít, có hai kiểu di dân: « Trong một số trường hợp, nước nhận đơn xin tị nạn không phải chịu một trách nhiệm nào về những nguyên nhân dẫn đến việc nộp đơn xin tị nạn (…) Ngược lại, còn có kiểu di dân dẫn đến việc xin tị nạn là vì chúng ta có những trách nhiệm trong vấn đề này. Đó là do những cuộc can thiệp của chúng ta đã dẫn đến sự bất ổn cho một đất nước. » Đây chính là những gì người ta đã nhìn thấy tại Syria, Libya và giờ là Afghanistan. Trong những hồ sơ này, phương Tây đều có trách nhiệm. Cũng theo ông Gérard-François Dumont, nếu nhìn lại lịch sử, chính sách « giao khoán » hay « giao thầu » việc xử lý đơn xin tị nạn cho một nước khác đã tồn tại từ nhiều thập niên trước, mà Việt Nam sau năm 1975 là một ví dụ rõ nét nhất. Vị giáo sư về địa lý học, dân số học này nhắc lại : « Những gì xảy ra sau năm 1975, dĩ nhiên, một mặt có chuyện thuyền nhân, nhưng mặt khác người ta thường hay quên là còn có hàng trăm ngàn người Việt Nam, và nhất là người Cam Bốt, bị nhốt trong những trại tị nạn ở Thái Lan. Bởi vì trên thực tế, đơn xin tị nạn phải được nộp ngay tại những trại này ở Thái Lan. Không có gì khổ bằng khi một số người nhìn thấy đơn xin tị nạn của mình bị từ chối, trong khi có những người khác lại được chấp nhận đến nước này hay nước kia ». Công ước Geneve : Mỗi nước một phách Trước những cuộc khủng hoảng di dân dồn dập, phải chăng Công ước Geneve, năm nay mừng 70 tuổi, đang bị « chà đạp » ? Việc Đan Mạch – quốc gia có tham gia ký kết Công ước – « dịch chuyển quyền tị nạn » sang một quốc gia không tham gia Công ước đã làm dấy lên nhiều lời chỉ trích. Nếu như văn bản quốc tế này mang lại quyền tị nạn bình đẳng cho tất cả mọi người, thì việc áp dụng lại gặp nhiều trở ngại, tùy thuộc vào cách diễn giải của từng nước có ký kết Công ước Geneve, theo như giải thích của giáo sư Dumont; « Trên thực tế, tùy theo các nước châu Âu và còn tùy cả sự hiểu biết, kỹ năng, mà việc áp dụng Công ước lại rất khác nhau. Đơn giản chỉ vì có vài nước châu Âu đã áp dụng Công ước này từ nhiều thập niên qua, trong khi nhiều nước khác áp dụng muộn hơn, do mới tham gia ký kết gần đây. Cho nên, sự khác biệt trong cách áp dụng là một điều quan trọng. Ngoài ra, cần phải lưu ý thêm là người xin tị nạn cũng có quyền tự do trong việc lựa chọn nơi xin tị nạn. Họ có xu hướng chọn những nơi mà họ nghĩ rằng cơ hội được chấp nhận tị nạn cao hơn. Hơn nữa, chúng ta còn chưa nói đến khái niệm quốc gia an toàn. Nghĩa là nước Đức có thể từ chối đơn xin tị nạn của một người đến từ một nước mà Đức cho là an toàn và không ai bị trấn áp cả. Danh sách các nước an toàn của Đức và của Pháp là không giống nhau ! » Phương Tây luôn là điểm đến lý tưởng cho nhiều dòng di dân. Ông Jean-Pierre Alaux cho rằng đó còn là do hai đặc tính hấp dẫn. Thứ nhất là do đời sống kinh tế cao và nhiều khả năng hội nhập xã hội, tìm kiếm việc làm. Thứ hai, nền tư pháp rõ ràng, vững chắc, và một bộ máy hành chính hiệu quả. Trước làn sóng di dân lớn, phương Tây có xu hướng tìm cách xóa tan hai tính hấp dẫn đó, khi giao phó việc quản lý đơn xin tị nạn cho một nước thứ ba. Nhưng bằng cách nào ? Vị luật gia này giải thích : « Về mặt địa lý, khi giữ người xin tị nạn ở xa, bằng cách cấm họ tiếp cận các cơ sở bảo đảm hợp pháp, cho phép họ cầu cứu, cầu viện đến tư pháp, và bằng cách hướng họ đến những quốc gia không có nhân quyền hay tình trạng nhân quyền tối thiểu, và như vậy họ không có một sự bảo đảm nào là sẽ được bảo vệ một cách hiệu quả. » Hỗ trợ các nước lân cận và rủi ro di dân chọn lọc Dẫu sao thì các chuyên gia cũng có cùng chung một nhận định : Khi một nước bất ổn, thì các nước lân cận là những quốc gia bị ảnh hưởng trước tiên. Liên Hiệp Quốc dự báo thế giới sẽ có thêm nửa triệu người tị nạn Afghanistan trong năm 2021. Để tránh tái diễn khủng hoảng di dân như năm 2015, Liên Hiệp Châu Âu đã có cuộc họp trong ngày thứ Ba 31/08/2021 nhằm tìm kiếm một chiến lược đối phó. Một mặt nhiều nước thành viên Bắc Âu bày tỏ lập trường cứng rắn khi kêu gọi người dân Afghanistan « hãy ở gần nhà và gần nền văn hóa », « hãy ở tại chỗ, và chúng tôi sẽ hỗ trợ cho khu vực ». Mặt khác, Liên Hiệp Châu Âu dự trù một gói hỗ trợ tài chính cho các nước lân cận của Afghanistan như Pakistan và Tadjikistan. Liên Âu dự trù một khoản ngân sách 80 tỷ euro để hỗ trợ các nước này tiếp đón người tị nạn. Cách tốt nhất để tránh một cuộc khủng hoảng di dân là tránh một cuộc khủng hoảng nhân đạo, theo như tuyên bố của ủy viên Châu Âu Ylva Johansson sau cuộc họp. Chỉ có điều, như lưu ý của nữ nghị sĩ châu Âu Maria Arena, giải pháp này có nguy cơ bị biến thành một kiểu chính sách « di dân có chọn lọc »: « Điều quan trọng là có thể trao thêm khả năng cho các nước tiếp nhận những người chạy trốn chế độ Taliban. Liệu rằng ngay từ ban đầu, tại những nước đó, người ta có thể nộp đơn xin tị nạn ? Đương nhiên là Có. Đây chính là điều mà họ gọi là thủ tục tái định cư. Tuy nhiên, nên cẩn thận với thủ tục tái định cư này, bởi vì nó có thể được sử dụng như là một công cụ chọn lựa người tị nạn tốt. Người ta sẽ chọn những người nào mà họ thấy cần, đáng quan tâm như trường hợp của những Công giáo phương Đông, vốn dĩ đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi. » ********** Ghi chú: 1. Maria Arena: Nữ nghị sĩ châu Âu, thuộc nhóm Liên minh Cấp tiến Xã hội và Dân chủ ở Nghị Viện Châu Âu, chủ tịch Ban Nhân Quyền. 2. Jean-Pierre Alaux, luật gia, thành viên nhóm Thông tin và Hỗ trợ Di dân. 3. Gérard-François Dumont, nhà địa lý học, Dân số học, Kinh tế gia, giáo sư trường Đại học Paris IV Sorbonne.
    9/2/2021
    9:57
  • Tạp chí tiêu điểm - Afghanistan : Sự đại bại của nền ngoại giao phương Tây ?
    Thất bại của Hoa Kỳ tại Afghanistan là dấu hiệu của sự tái định hình địa chính trị. Thách thức lớn giờ không còn là một cuộc chiến chống khủng bố mà là Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhà chính trị học, chuyên gia về Quan hệ quốc tế Bertrand Badie, việc Kabul sụp đổ còn là một sự đại bại của cả nền ngoại giao phương Tây. Khi « người chăn cừu » đối đầu với cường quốc phương Tây Taliban ngày nay khác xa với Taliban của năm 2001. Tờ Asia Times lưu ý, trong cuộc tiến công thần tốc 4 ngày, Taliban đã chứng tỏ những « người chăn cừu » đã có thể đánh bại Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây. Sự sụp đổ một cách nhanh chóng của chế độ Kabul do Mỹ và phương Tây bảo trợ thật sự là một cú sốc mạnh, một cơn địa chấn địa chính trị toàn cầu. Kabul gợi nhắc lại sự kiện Sài Gòn thất thủ ngày 30/04/1975, một cột mốc quan trọng cho lịch sử thế giới đương đại thế kỷ XX.   Thế nhưng, Bertrand Badie, giáo sư danh dự trường đại học khoa học chính trị Sciences Po tại Paris, trong một chương trình phát thanh trên đài France Culture, lưu ý rằng, thế giới ngày nay chịu nhiều áp lực xã hội, những căng thẳng, các xung đột và cả những bế tắc của xã hội. Các nhà lãnh đạo phương Tây đã lầm lẫn nghĩ rằng chỉ cần phô trương sức mạnh, dùng vũ lực thì mọi việc có thể an bài. « Khi một cường quốc thoái lui, tình trạng thực tế như vốn có của một đất nước sẽ được phơi bày », ông nói, do vậy « mọi cuộc can thiệp của nước ngoài là luôn đi đến thất bại ».   Nhà chính trị học này nhắc lại, cuộc can thiệp của Mỹ tại Afghanistan được tiến hành trong bối cảnh mang nặng tư tưởng tân bảo thủ, với một ý tưởng xây dựng điều mà tổng thống thời bấy giờ ông George W. Bush gọi là « Greater Middle East »: Vùng Đại Trung Đông này chỉ sẽ được bình ổn bằng cách đi theo con đường dân chủ hóa mà phương Tây vạch ra.   Giờ đây, khi mô hình đó không còn trụ được nữa thì sự hỗn loạn là điều không thể tránh khỏi. Hệ quả là uy tín của Mỹ, phương Tây, và nhất là NATO đã bị sứt mẻ nghiêm trọng. Vẫn theo ông Bertrand Badie, sự việc còn làm nổi rõ một sự cạnh tranh gay gắt giữa hai nền ngoại giao trong cách tiếp cận hồ sơ Afghanistan.   « Ngày nay, người ta có cảm giác là có một sự cạnh tranh giữa hai kiểu ngoại giao. Nền ngoại giao phương Tây vẫn còn bị đóng khung trong một mô hình hai cực. Đó là một ngoại giao mang xu hướng phe phái, phân loại thế giới, một bên là những nước bạn bè, đồng minh, khách hàng và bên kia là những kẻ thù. Đương nhiên, tầm nhìn này chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại gần như không thể tránh khỏi.   Ở phía đối diện, chúng ta có một kiểu ngoại giao khác đang được hình thành, cũng không mấy gì đạo đức cho lắm, nhưng có thể nói là láu lỉnh hơn, mà tôi gọi là "catch-all diplomacies", đó là một kiểu ngoại giao "không bỏ sót điều gì". Trong một thế giới như hiện nay, cần phải thiết lập các mối quan hệ ngoại giao với tất cả mọi người, với tất cả những gì tồn tại, và phải thỏa hiệp, cố gắng đi xa hơn nếu có thể, theo cách hướng đến một đồng thuận. »  Đây chính là kiểu ngoại giao thực dụng, đang được Nga và Trung Quốc tiến hành. Cả hai nước này lần lượt tiếp đón các phái đoàn của Taliban nhằm tìm cách thiết lập bang giao với Taliban tùy theo mục tiêu chính trị và lợi ích an ninh quốc gia của từng nước. Chuyên gia về Quan hệ quốc tế nhắc lại, chủ nghĩa thực dụng từng được phương Tây áp dụng trong suốt thời kỳ thế giới phân thành lưỡng cực, nhằm mở rộng, củng cố phe phương Tây để đối phó với mối đe dọa từ Liên Xô.   Taliban, Pakistan và phương Tây : Sao đã đổi ngôi ? Giờ đây, trong bối cảnh này, phương Tây tự hỏi : Làm thế nào cư xử với Taliban ? Có nên nói chuyện với phe nổi dậy này hay không ? Những câu hỏi ít nhiều gây ngạc nhiên cho giới quan sát. Với ông Bertrand Badie, Châu Âu ngày nay rơi vào ngõ cụt. Trước tình hình Afghanistan hiện nay, các nền ngoại giao phương Tây hầu như trong một thế tồi. Họ chẳng có nhiều lá chủ bài trong ván cờ này: « Ở đây chúng ta có nhiều hình ảnh để mà quan sát. Thứ nhất, phương Tây hầu như vắng bóng tại vùng mà người ta gọi là Đại Trung Đông, như tại Iran, Syria hay Irak chẳng hạn, trong một chừng mực nào đó, phương Tây gần như không thể nào nhúng tay vào bất cứ chuyện gì. Nếu như trong vòng hai thế kỷ, phương Tây là người giám hộ cho Trung Đông, thì giờ họ không còn có chút trọng lượng nào trong khu vực. Điều này quả thật là đáng lo ngại.  Yếu tố thứ hai, khi nhìn bản đồ Afghanistan, người ta cũng quan tâm đến các nước láng giềng. Chẳng hạn như Trung Quốc, tuy chỉ có một đường biên giới chung ngắn ngủi nhưng lại ẩn chứa một khả năng tranh chấp to lớn tiềm tàng, bởi vì còn có một tình liên đới giữa Taliban với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, mà với Trung Quốc đây là một trong những mối họa gây bất ổn lớn.   Ngoại trưởng Vương Nghị đã tìm cách xử lý vấn đề này một cách khéo léo, một mặt ông ấy tiếp giáo sĩ Baradar (nhân vật số 2 của Taliban), nhưng mặt khác ông ấy tìm cách dựa vào đồng minh Pakistan, vốn dĩ được cho là đồng minh của Taliban. Đây là một cách thức chơi trò cân bằng. Và như vậy, điều này mang lại cho Trung Quốc một vị thế quan trọng trong khu vực, lớn hơn nhiều so với vị thế của Trung Quốc trước đây và nhất là của phương Tây ngày nay.   Rồi chúng ta còn có 2 hay 3 cường quốc khác trong khu vực, như Iran, cũng đang nỗ lực thiết lập một mối quan hệ đồng thuận với Afghanistan một cách uyển chuyển, nhưng không kém phần phức tạp. Nhất là chúng ta còn có một láng giềng lớn khác nữa, quan trọng không kém, vì đó còn là một cường quốc hạt nhân trong khu vực : Pakistan. Đây là quốc gia đỡ đầu cho Taliban và có thể đóng vai trò nhà trung gian giữa Afghanistan và Trung Quốc, và rất có thể là giữa Afghanistan với các cường quốc phương Tây, do Pakistan cũng có quan hệ truyền thống với nhiều cường quốc phương Tây.  Điều thú vị ở đây là chúng ta đang chứng kiến cảnh phương Tây, người giám hộ, nước đỡ đầu, ông chủ của ngày hôm qua, nay chỉ có thể bước vào cuộc chơi này qua ngả trung gian của một nhà nước xưa kia từng là nước được che chở như Pakistan chẳng hạn. »  Kabul thất thủ : Lỗi ở Ashraf Ghani ? Điều hiển nhiên là việc Mỹ triệt thoái quân đều làm Nga và Trung Quốc hài lòng, khi thấy rằng cường quốc số một thế giới giờ không thể nào gây áp lực với hệ thống quốc tế. Nhất là, hình ảnh hỗn loạn tại Kabul còn là một « thảm kịch » cho NATO, minh chứng cho sự bất lực của khối  quân sự này trong việc xử lý cuộc khủng hoảng. Thế nên, nhà nghiên cứu chính trị học này cho rằng, người ta khó có thể đổ hết mọi lỗi lầm lên vai ông Ashraf Ghani:   « Trong tình huống này, chúng ta có bên can thiệp, trên thực tế là nước giám hộ, và rồi chúng ta có một chính phủ được dựng lên, được bên can thiệp bảo vệ và chính phủ đó là một nhà nước được che chở.   Theo định nghĩa, một nhà nước được che chở thì không vận hành được, bởi vì một nhà nước được che chở thì bị lệ thuộc, điều đó có nghĩa là nhà nước này luôn trong trạng thái được viện trợ, điều đó cũng có nghĩa là họ được viện trợ những gì họ thấy phù hợp cho họ, cho các nhà lãnh đạo Afghanistan. Bởi vì họ đâu có nguồn thu nào khác, ai cũng ngạc nhiên là quân đội Afghanistan có quân số đông hơn phe Taliban mà hoàn toàn bại trận.  Cũng theo định nghĩa, các định chế của nhà nước được che chở là những định chế tham nhũng, yếu kém và không thể tự chủ, chẳng có chút năng lực riêng nào, cho nên, việc đổ hết mọi sai lầm lên ông Ashraf Ghazi đáng thương thì cũng hơi khó hiểu.   Điều này quả thật là phi lý, bởi vì ông Ghani chính là kết quả của một kiểu lập luận can thiệp. Ông ấy khá giống với Ngô Đình Diệm, người từng là tổng thống chính phủ miền Nam Việt Nam trong những năm 1960. »  Ngoại giao phương Tây thực sự trong sạch ? Câu hỏi đặt ra : Ngoại giao phương Tây giờ có thể làm được gì ? Về mặt lý thuyết, mục tiêu của ngoại giao là xử lý các cuộc phân ly, các tranh chấp, căng thẳng hay xung đột. Phương Tây từ bao lâu nay đã hiểu nhầm ý nghĩa của « ngoại giao », khi luôn tỏ ra « xưng bá, xưng hùng », lập bè lập phái. Giáo sư Bertrand Badie lấy làm tiếc rằng, kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ, nền ngoại giao phương Tây đã không biết cách thay đổi « phần mềm » của mình để thích ứng với những thay đổi thời đại, mà Afghanistan là một ví dụ điển hình mới nhất:  « Chúng ta vẫn còn trong kiểu ngoại giao theo phe phái, được cho là một nền ngoại giao vì nhân quyền; trong khi  thực tế lại cho thấy không đúng như vậy, bởi vì trong phe phương Tây, chúng ta thấy có nhiều nhà độc tài như thống chế Sissi của Ai Cập, hoàng thái tử Mohammed Ben Salmane (MBS) của Ả Rập Xê Út, hay như những gì đang xảy ra xung quanh vụ tai tiếng Pegasus.   Tất cả những điều đó cho thấy rõ là đặc tính của nền ngoại giao phương Tây chính là ý chí khẳng định một bản sắc trước đối thủ, chứ không phải là những đức tính.   Thế nhưng, ngoại giao lại là điều ngược lại, không phải là sự tự khẳng định bản sắc của mình trước những kẻ khác, mà là tìm kiếm một đồng thuận với những bản sắc, là sự thỏa hiệp để xây dựng một trật tự quốc tế ổn định ».
    8/26/2021
    10:35

Über TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM, TẠP CHÍ ÂM NHẠC und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.at-App

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM: Zugehörige Podcasts

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM: Zugehörige Sender

Information

Wegen Einschränkungen Ihres Browsers ist dieser Sender auf unserer Website leider nicht direkt abspielbar.

Sie können den Sender alternativ hier im radio.at Popup-Player abspielen.

Radio