Radio Logo
RND
Höre {param} in der App.
Höre TẠP CHÍ VĂN HÓA in der App.
(7.565)(6.472)
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
StartseitePodcasts
TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Podcast TẠP CHÍ VĂN HÓA
Podcast TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

hinzufügen

Verfügbare Folgen

5 von 24
  • Tạp chí văn hóa - “ĐỜI SỐNG THƯỢNG LƯU” : Cội rễ dưới ánh mặt trời
    Một cái gì thật châm biếm, hài hước, đau hay vui nhưng vẫn đầy sự mỉa mai, biết tự cười Mình và cười Người, chỉ có thể rất Ý, là điều người ta sẽ tìm thấy trong “The great beauty”, tạm dịch là “Đời sống thượng lưu” của điện ảnh Ý. Đạo diễn kiêm đồng biên kịch Paolo Sorrentino đã chinh phục tượng vàng Oscar lần thứ 86 bởi những câu chuyện nhỏ xen lẫn vào những cảm xúc của nhân vật chính là một sợi dây xuyên suốt phim, cho người ta thấy “cuộc đời chỉ là hành trình của sự tưởng tượng, tất cả đều đi từ Sống tới Chết … và tất cả vốn chỉ là một trò lừa đảo” mà thôi. Truyện phim kể về Jep Gambardella, một nhà văn ở tuổi 65, người đã từng có tác phẩm văn học nổi tiếng ở Ý, mang tên “The Human Apparatus”. Kể từ sau cuốn tiểu thuyết ấy, 40 năm đã trôi qua, ông không thể viết thêm bất cứ tác phẩm nào, bởi trong thâm tâm, ông luôn muốn “tìm một vẻ đẹp cao quý nhưng chưa tìm được”. Jep trở thành một nhà báo, chuyên thực hiện các cuộc phỏng vấn với những người nổi tiếng ở Roma. Từ đó, dường như những điều xấu, đẹp, hay, dở đều được bộc lộ, và qua con mắt của Jep, nó nửa đau thương nửa hài hước, nửa sang trọng nửa thô lậu, khiến cho người ta phải dở khóc dở cười. Ở đó, vẻ đẹp của Roma hiện lên mê hoặc, đầy sức sống nhưng thật ra là “đang chết dần” trong mắt ông. Nhìn vào Jep, người ta thấy cuộc sống của một Gatsby với những cuộc vui, những tiệc tùng thâu đêm suốt sáng, những giấc ngủ khi người khác thức dậy và bình minh lúc 3 giờ chiều. Thế nhưng, Jep là một người tỉnh táo, luôn biết mọi thứ biến động quanh mình, biết mình là ai, mình ở đâu, biết những người xung quanh đang hiện hữu theo cách nào và như một câu thoại ông đã nói, rằng “Mọi thứ quanh tôi đang chết, cả Roma, cả những người trẻ hơn tôi và tôi”. Cuộc đời với những cái mũi dài Hẳn ai cũng biết nhân vật Pinochio, chú bé người gỗ mỗi lần nói dối là một lần chiếc mũi lại dài ra. Trong “Đời sống thượng lưu” thì không hẳn vậy, dường như ai cũng dối trá nhưng chẳng có cái mũi nào dài ra cả. Do đó, những dối trá ấy trở thành bí mật và ai cũng cho mình cái quyền được nói dối, được sống dựa vào những “bí mật tưởng như không thể bật mí” ấy. Những sự lố lăng được Jep lần lượt bóc tách như bóc một củ hành nhiều lớp, không hẳn là một bài phỏng vấn nhưng giống như những thấu hiểu quá rõ ràng mà ông dành cho họ, dành cho cuộc đời đang diễn ra quanh mình. Đó là tảng băng chìm bên dưới sự hoa mỹ, mang danh của nghệ sỹ, của nhà văn, của giới thượng lưu, thậm chí, của cả một đức Hồng Y. Một nghệ sĩ kịch câm tự lao đầu vào tường, luôn nói những điều đao to búa lớn về thấu cảm, về cảm xúc nhưng lại không thể lí giải cái cảm xúc ấy là gì. Có phải cô nghĩ “Tôi là nghệ sĩ và tôi không cần phải giải thích” - đó là điều mà Jep nói thẳng vào mặt cô ta khi sự lúng túng bộc lộ bên dưới cái vỏ khó hiểu kệch cỡm nửa mùa. Một nhà văn có 11 cuốn sách, nhìn đời bằng nửa con mắt với sự khinh miệt, tự phụ, thì hóa ra cái kết quả ấy chẳng qua là nhờ vào “lưới tình” của cô ta với giới chính khách. Ngoài miệng rêu rao sự hi sinh vì gia đình, vì con cái nhưng kì thực, cô ta có tới 3 người giúp việc, có cả quản gia, người phục vụ… để dạy dỗ và gần gũi các con, vậy cô ta hi sinh cái gì? Một cô bé họa sĩ nhỏ tuổi bị cha mẹ lôi ra khỏi sân chơi với các bạn cùng lứa, ép phải tham gia vào bữa tiệc sang trọng nơi có rất nhiều nhà sưu tầm tranh đang đợi và bắt cô phải vẽ trước mặt hàng chục con người “thượng lưu” đầy tò mò. Cô bé trút tất cả sự giận dữ lên tấm toan khổng lồ, vấy màu lên toàn thân mình, hét và khóc… Rõ ràng cô đang khóc, nhưng đổi lại, gia đình cô sẽ kiếm hàng triệu Euro chỉ sau một đêm. Một đôi vợ chồng bá tước hết thời cho thuê chính mình với giá 250 euro một người để có mặt ở những bữa tiệc sang trọng của giới thượng lưu, thậm chí, giả danh những người có tước vị danh giá khác. Một đức Hồng Y luyên thuyên về việc nấu các món thỏ hay hươu … mặc dù xung quanh chả ai bận tâm tới ông. Một quả phụ yếu đuối giàu có chưa từng bỏ lỡ một bữa tiệc nào nhưng ngoài miệng luôn tỏ ra lo lắng cho cậu con trai có vấn đề về thần kinh của mình một cách vô cùng đáng thương. Tất cả những câu chuyện ấy, những con người ấy là cuộc sống bao quanh Jep trong những bữa tiệc thâu đêm suốt sáng không có điểm dừng. Bữa tiệc không dừng lại. Và họ dường như cũng không dừng lại. Họ bám vào nhau, đu lấy nhau, tạo thành điệu nhảy Đoàn tàu, hát hò, uống, nhảy múa quanh biệt thự. Cái điệu nhảy mà Jep cho rằng đó là điệu nhảy đẹp nhất Roma, đoàn tàu ấy là đoàn tàu tốt nhất Roma bởi vì suy cho cùng, nó chẳng đi đến đâu cả. Hình ảnh Jep nằm trên ghế ở tầng trên, bên dưới là đoàn người nhảy điệu đoàn tàu bám vai nhau chạy vòng quanh vô định chính là nhìn nhận của ông với cuộc sống của họ. Cuộc sống hoang dại, vô nghĩa kéo dài ngày này qua ngày khác mà chẳng bao giờ tìm thấy đích đến. Thế nên, Jep đã nói “Thay vì vênh váo, hãy học cách cảm thông với nhau, hãy vui vẻ với nhau đi”. Thế nên, sau khi chỉ trích nhà văn có 11 tác phẩm kia, Jep lại nghĩ tới việc sẽ ăn nằm với cô ta. Thân xác chỉ để khỏa lấp những trống rỗng trong tâm hồn. Nhưng liệu Jep có thỏa mãn… khi mà ngoài kia, mọi thứ vẫn đang chết? Tại sao Sơ Maria chỉ ăn rễ cây? Gốc rễ mới là quan trọng. Đó là điều sơ Maria nói với Jep khi bà trả lời câu hỏi tại sao bao năm qua bà chỉ ăn rễ cây. Sự sống diễn ra quanh Jep như một vòng tròn lặp vô nghĩa, còn cái Chết thì lại đến quá đỗi bất ngờ. Mối tình đầu của ông ra đi khi bà vẫn chỉ yêu mình ông suốt bao năm và người chồng của bà chỉ là một người bạn, không hơn. Mối tình mới nhất của Jep cũng qua đời khi họ chỉ vừa gặp và gần gũi nhau, dù cô mới chạm tuổi 40. Và cậu con trai bị bệnh tâm thần của bà góa thượng lưu cũng tự tử lúc còn quá trẻ. Tất cả diễn ra quá nhanh. Đó là cách mà mọi thứ kết thúc, cái chết. Sự châm biếm tiếp tục được thể hiện rõ nét ở phân đoạn Jep cùng người yêu chọn lựa trang phục dự đám tang của cậu thanh niên. Cái cách ông nói về việc tham dự lễ tang của giới thượng lưu nó thật bài bản. Nó không còn là việc chia buồn đơn thuần nữa mà giống như một sự phô trương đúng mực nhất, chân thành nhất cần có ở một bậc thượng lưu. Nhất định phải làm cho đúng từng cử chỉ, điệu bộ, không được khóc “chen” phần của khổ chủ bi thương hay phải ghé tai khổ chủ mà nói rằng mình luôn ở cạnh họ để xẻ chia nỗi buồn nếu họ cần. Một sự giả tạo trong một đau thương có thật. Bởi đây là giây phút duy nhất trong chuỗi sự kiện mai mỉa nực cười xuyên suốt phim, ta thấy Jep khóc. Sau tất cả những hành động chuẩn mực của một người thượng lưu, Jep đã đứng lên khiêng quan tài cho cậu thanh niên đáng thương và bật khóc. Giọt nước mắt ấy chắc chắn là giọt nước mắt từ “gốc rễ”, từ tận thẳm sâu con người Jep, từ lòng thương và sự cảm thông có thật. Hình ảnh chú hươu cao cổ trong khu vườn và màn ảo thuật của vị ảo thuật gia làm cho chú biến mất khiến Jep chú ý hơn cả. Không phải bởi sự vi diệu mà bởi chính Jep cũng đang muốn biến mất. Cuộc sống vẻ như chả còn ý nghĩa gì nếu cứ ngày đêm lẫn lộn giữa rượu, tình dục và những đoàn tàu nhảy múa. “Vậy hãy làm tôi biến mất luôn đi”. Vị ảo thuật gia đã phì cười khi Jep ngỏ ý, tất cả chỉ là trò lừa bịp thôi mà. Ở đoạn đầu phim, Jep đã nói “hành trình của chúng ta là tưởng tượng, là đi từ sống tới chết”. Người ta thấy những cảnh quay hiển hiện một Roma thật đẹp, trong sáng, những con người bình dị, những khúc hát vang vọng nơi Thánh đường … Rồi xen vào đó, là cái chết bất ngờ của một du khách khi đang thăm thú cảnh quan của thành phố. Cứ thế, ông ta ngã xuống … vậy là hết một đời … không trăng trối, không có sự chuẩn bị … đi từ sống tới chết … Rồi cuối phim, khi đàn Hồng hạc bất ngờ xuất hiện trên sân thượng ngôi biệt thự và sơ Maria nói bà có thể gọi tên Thánh của từng con Hạc … khi bà nói bà ăn rễ cây vì rễ là quan trọng nhất … thì đó cũng là lúc Jep nhận ra điều quan trọng hơn cả. Đó cũng là lúc bà Bá tước Colonnas, người vẫn cùng chồng bán tước hiệu với giá 250 euro mỗi lần dự tiệc, tìm tới ngắm chiếc nôi bà từng được cha là Hoàng tử đặt nằm trong đó ở một phòng trưng bày cổ vật. Gốc rễ của mỗi con người là nguồn cội, là những cảm xúc từ tận thẳm sâu. Jep rảo những bước chân thật chậm quanh Roma, giống như một cuộc dao chơi trong đời, nhìn ngắm tất cả để rồi đúc kết ra những gì thuộc về bản chất. Đó là cái cách mọi thứ kết thúc, cái chết. Nhưng trước đó, nó là Sự Sống. Vạn vật bao bọc lẫn nhau, không có cái vỏ nào ở bên ngoài và cũng không có lớp nào ở trong cùng. Chỉ cần một gốc rễ khỏe mạnh được nuôi dưỡng dưới ánh mặt trời.
    11/27/2021
    9:43
  • Tạp chí văn hóa - “TRÁI TIM LỠ NHỊP” : Những bổng trầm cứu rỗi
    Có một sự kết hợp không phải dễ tìm thấy giữa nhạc cổ điển và những chi tiết bạo lực băng nhóm, nhưng cũng không hề làm mất đi những nét duyên dáng và hấp dẫn vốn có, tất cả đã được thể hiện thật xuất sắc trong bộ phim “Trái tim lỡ nhịp” của đạo diễn Jacques Audiard, điện ảnh Pháp. Bộ phim đã đạt được rất nhiều thành tựu trong các liên hoan phim lớn trên thế giới, đặc biệt, giành 8 trong số 10 đề cử giải Cesar năm 2005. Với cái tên gốc là “De battre mon coeur s’est arrêté”, phim được làm lại từ bộ phim của điện ảnh Mỹ “Fingers” của đạo diễn James Toback, ra mắt lần đầu tiên vào năm 1978. Tuy nhiên, “Trái tim lỡ nhịp” được đánh giá là đã tạo nên một không gian hoàn toàn mới, vượt ra khỏi tầm ảnh hưởng của tác phẩm gốc. Người ta thấy ở đây một câu chuyện đẹp hơn, dày dặn, đa màu sắc hơn và đầy tính nhân văn hơn. Bởi vậy, kịch bản phim đã đạt giải Cesar dành cho “tác phẩm chuyển thể hay nhất”. Bộ phim dài gần hai tiếng đồng hồ kể về Thomas, một chàng trai đã 28 tuổi, luôn bị dằn vặt giữa công việc buôn bán bất động sản mà cha anh áp đặt với những cách xử lí “bẩn thỉu”, ngoài vòng pháp luật và một đam mê nghệ thuật mơ hồ nằm trong máu, vốn được di truyền từ người mẹ là nghệ sĩ piano đã mất của anh. Một mặt, Thomas vẫn phải duy trì công việc làm ăn của mình đồng thời vẫn hướng tới mong ước sẽ phát huy tài năng thiên bẩm trong một ngày không xa. Sức mạnh của âm nhạc Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói công việc của Thomas và các cộng sự đang làm có chút “bẩn thỉu” và giống như một băng nhóm xã hội đen hơn là một công ty bất động sản. Họ thả chuột vào các tòa nhà mà họ đã dòm ngó từ trước với ý định khiến cho giá nhà hạ xuống để thu mua được với giá rẻ rồi sau đó sẽ bán cao kiếm lời. Họ cho người tới đập phá các khu chung cư bỏ hoang, đuổi những người vô gia cư khốn khổ ra ngoài đường, thậm chí đánh đập mọi người một cách tàn nhẫn… Tất cả chỉ để phục vụ cho việc bán chác được thuận lợi và dường như cả Thomas lẫn hai cộng sự của mình đều không mảy may suy nghĩ hay ân hận. Một việc làm không giết chóc ai, không ai phải chết mà họ lại kiếm được rất nhiều tiền. Đêm đêm, họ tự thưởng cho nhau những ly rượu bỏng cháy cổ họng, những cô em chân dài mướt mát và cả những pha choảng nhau sứt đầu mẻ trán để giải trí trong các quán bar. Cuộc sống vốn dĩ đơn giản và cứ thế diễn ra ngày này qua ngày khác… cho đến khi… cái mã GEN trong máu Thomas trỗi dậy, cái “máu” của một nghệ sĩ dương cầm. Bà Sonia, mẹ của Thomas đã mất gần 10 năm trước, đó cũng là lúc anh ngừng chơi piano để theo nghiệp của cha. Nhưng trong căn hộ của anh vẫn còn cây đàn piano mẹ để lại, vẫn còn cả những băng cát sét thu âm của mẹ và những bản nhạc đã cũ. Cái đêm Thomas vô tình gặp lại ông Fox, người quản lí cũ của mẹ anh, là đêm định mệnh khiến anh trở lại với khát khao âm nhạc, đặc biệt khi ông Fox vẫn trầm trồ về tài năng thiên phú của anh và yêu cầu anh hãy chuẩn bị cho buổi xét tuyển nghệ sĩ mà ông sắp tổ chức. Thomas như bị kéo ngược về quá khứ, cũng là lần đầu tiên anh ngồi vào cây đàn sau chừng ấy năm không còn ai vỗ về động viên. Rồi, sau khi bị trường đào tạo âm nhạc từ chối, số phận run rủi cho anh gặp Mao Lin, cô giáo dạy dương cầm người Việt Nam. Oái oăm thay, Mao Lin lại không nói được tiếng Pháp vì cô vừa đặt chân tới Paris. Nhưng cái rào cản ấy chẳng nghĩa lý gì với một người đang nuôi khao khát được làm lại như Thomas. Từ đây, người ta đã đoán biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Âm nhạc đã dần dần xâm chiếm Thomas, vật lộn đấu tranh với con người thô loạn đen tối đầy bạo lực trong anh để vươn lên tìm sức sống. Ban đầu, Thomas vô cùng căng cứng. Bàn tay chỉ để kí kết hợp đồng. Bàn tay chỉ để cầm bao tải chuột đi thả khắp khu dân cư. Bàn tay chỉ để cầm những vật dụng hữu ích nhất dùng cho việc đánh nhau. Bàn tay trầy xước với máu me và đất cát. Bàn tay ấy giờ đây phải tập làm quen dần trở lại với những phím đàn. Con người quen với những đấm đá. Con người quen với những rượu và thuốc. Con người quen với mưu mô toan tính. Con người ấy giờ phải học cách ngồi thật vững, thật thẳng lưng, học cách Thở và thả lỏng, học cách lắng nghe. Không dưới một lần Thomas đã cáu bẳn và gay gắt với Mao Lin, thậm chí còn đuổi cô ra khỏi chính căn phòng cô đang dạy anh. Nhưng, không giống với những người vẫn luôn sợ hãi và khinh thường Thomas, Mao Lin vẫn đứng đó, lớn tiếng nói với anh bằng tiếng Việt, rằng cô cần anh tôn trọng mình, rằng cô là một nghệ sĩ và anh phải học cách nói chuyện với cô bằng cách khác. Sự khác biệt về ngôn ngữ không phải rào cản giữa họ bởi âm nhạc đã làm thay việc đó. Mỗi lần Thomas tới nhà Mao Lin học là một lần anh học cả cách Thở, cách kìm chế cơn giận, chế ngự những bạo lực nóng nảy thô lậu của bản thân… để rồi, âm nhạc len lỏi trở lại vào cơ thể Thomas, dọn sạch trí óc của anh, soi sáng những xúc cảm tưởng như đã chết từ lâu theo cái chết của mẹ anh. Những giây phút ở bên Mao Lin, bên cây piano trở thành những giây phút bình yên hiếm hoi của Thomas. Trường đoạn trước khi tham gia buổi tuyển nghệ sĩ của ông Fox chính là trường đoạn Thomas nhìn nhận rõ rệt nhất về bản thân mình. Đêm đó, Thomas không tham gia vào cuộc đuổi bắt và đánh đập những người vô gia cư trong tòa nhà mà anh và các bạn đã chọn để mua bán. Anh chỉ đứng đó, nhìn cơn hoảng loạn. Dưới ánh đèn pin lấp loáng, người ta thấy gương mặt Thomas nhợt nhạt bất an và đầy thất vọng như là chính anh đang nhìn thấy sự tồi tệ của mình bấy lâu nay. Sáng hôm sau, Thomas đến gặp ông Fox như hẹn nhưng rồi anh đã không thể tấu lên bản nhạc mà anh và Mao Lin đã thật sự hài lòng. Bản chất của anh là gì? Ai sẽ là người giúp Thomas nhìn ra điều đó? Tình cha con Câu trả lời nằm ở cha của anh, Robert. Người đã buộc dây ắt hẳn phải là người tháo dây. Đây có lẽ cũng chính là điều làm nên khác biệt trong “Trái tim lỡ nhịp” bởi nó không chỉ là bộ phim về tình yêu với âm nhạc, về sự mong muốn chuyển biến trong cuộc đời, mà còn về tình cha con. Trở lại với đoạn mở màn, người ta thấy đạo diễn đã mất tới 3 phút đầu chỉ để Sami, một cộng sự của Thomas kể về mối quan hệ giữa hai cha con anh ta. Theo lời kể thì rõ ràng, mối quan hệ này giống như một vòng tròn lặp, dù thời trẻ họ đã làm gì thì khi về già, những người cha đều cần con cái để nương tựa, giúp đỡ, bỗng coi con như là một người bạn, làm việc gì cũng hỏi ý kiến của con. 3 phút ấy giống lời lý giải cho mối quan hệ của Robert và Thomas từ đầu đến cuối phim. Hơn hai tiếng đồng hồ, Robert chỉ xuất hiện bốn lần nhưng lần nào cũng như một cú giáng mạnh vào Thomas hoặc thay đổi cục diện cuộc đời anh.    Lần đầu tiên là khi Robert giới thiệu bạn gái mới với Thomas và ngỏ ý sẽ cưới cô ta. Ngay lập tức Thomas phản đối bằng cách nói với Cha rằng cô ả là một cô gái điếm dù anh hoàn toàn chưa chắc chắn. Nhưng sau đó, người ta hiểu Thomas nói vậy vì trong lòng anh vẫn luôn có Mẹ, không thể dễ dàng chấp nhận một người đàn bà nào khác. Rồi mãi về sau này, anh mới biết cha anh đã bỏ cô gái chỉ vì điều anh nói. Lần thứ hai là khi Thomas đã bắt đầu tập piano với Mao Lin và không muốn đánh nhau nữa thì Robert lại ép con phải đi đòi nợ cho mình khiến Thomas bị bỏng tay. Lần thứ ba là lúc Robert gọi con trong tuyệt vọng và Thomas tìm thấy cha trên phố với thương tích đầy mình. Thomas vô cùng đau đớn khi thấy cha đã già mà vẫn phải đòi nợ đám xã hội đen khác. Anh tìm tới gã Minskov, kẻ đã hành hung cha mình nhưng lại mắc sai lầm nghiêm trọng khi cố tình gạ gẫm người tình của gã và lại còn vô ý cho gã biết tên Robert. Chính Thomas đã đẩy mọi chuyện đi quá xa với sự háo thắng non nớt của mình, khiến Minskov sau đó đã đột nhập vào nhà và giết cha anh. Lần thứ tư Thomas gặp cha cũng là lúc đau đớn tột cùng nhất, là bước chuyển mạnh mẽ nhất trong cuộc đời anh. Nhìn thân xác cha nằm đó, Thomas nhận ra mình phải làm gì. Cha anh đã cho anh câu trả lời. Bộ phim tưởng như đã khép lại cùng một cái kết có hậu. Hai năm sau, Thomas và Mao Lin đến với nhau, Thomas trở thành người đại diện cho cô, sắp xếp và đưa cô tới những buổi công diễn piano trên khắp nước Pháp. Nhưng không thể để khán giả chờ đợi câu trả lời về Minskov, đạo diễn một lần nữa, lại để sự tình cờ đưa đẩy cho Thomas vô tình gặp hắn ngay trước buổi diễn của Mao Lin. Bao nhiêu uất ức dồn nén bấy lâu khiến Thomas túm lấy hắn, vật lộn với hắn và cuối cùng, giật được khẩu súng từ tay hắn, dí thẳng vào đầu hắn. Thế nhưng, cái thiện vẫn chiến thắng. Thomas đã không thể bóp cò. Bởi anh đã nhận ra anh là ai.       Thomas trở lại khán phòng, nơi Mao Lin đang say sưa đàn. Bàn tay trầy da rớm máu của anh gõ nhẹ trên đùi, đôi mắt mơ màng nhìn ngắm người con gái Việt đã đồng hành cùng anh với biết bao trầm bổng và đã cứu rỗi linh hồn anh ngay trước vũng lầy của tội ác.
    11/19/2021
    9:47
  • Tạp chí văn hóa - Tình khúc Christophe qua lời kể của các nữ tác giả
    Sinh thời, nam danh ca Christophe đã phát hành 17 album và gần 60 đĩa đơn, trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp. Một trong những giai đoạn ghi âm quan trọng nhất của nam danh ca người Pháp là những năm hợp tác (1971-1988) với nhà sản xuất Francis Dreyfus. Hầu hết các tình khúc ăn khách nhất của Christophe đều nằm trong thời kỳ này. Đầu thập niên 1970, sự nghiệp của Christophe trải qua một giai đoạn trống vắng, sau nhiều năm thành công rực rỡ với một loạt ca khúc ăn khách. Tiêu biểu nhất là những nhạc phẩm ''Aline'' 1965 (Gọi tên người yêu), ''Les Marionnettes'' 1966 (Những con múa rối), ''Les amoureux qui passent'' 1966 (Một thời để yêu), ''J'ai entendu la mer'' 1967 (Nghe tiếng sóng biển) hay ''La vie c'est une histoire d'amour'' (Tình Yêu Thiết Tha) ….. Đó cũng là thời điểm ca sĩ Christophe ngưng hợp tác với hãng đĩa Barclay để rồi ký hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Motors do nhà sản xuất Francis Dreyfus thành lập. Trong số những tài năng trẻ làm việc chung với Christophe cho những dự án ghi âm mới, có nhạc sĩ Jean Michel Jarre (con trai của nhà soạn nhạc lừng danh Maurice Jarre, tác giả của nhạc phim ''Bác sĩ Jivago''). Vào thời bấy giờ, Jean Michel Jarre vẫn chưa nổi tiếng, anh chỉ lập kỷ lục số bán sau đó với album nhạc điện tử ‘‘Oxygène’’ vào năm 1976. Trong thời gian đầu, nhờ quan hệ hợp tác tốt đẹp mà cặp bài trùng này mới cho ra đời hai tác phẩm kinh điển : ‘‘Les Mots Bleus’’ (Những dòng chữ xanh) và ‘‘Les Paradis perdus’’ (Những thiên đường đã mất).   Cũng trong giai đoạn này, danh ca Christophe lần đầu tiên làm việc chung với các nữ tác giả, trong đó có Jacqueline Misrahi (thường lấy bút danh là Michaële) và nữ ca sĩ kiêm tác giả trẻ tuổi Léonie Lousseau, ban đầu thành danh trong làng nhạc Pháp nhờ hợp tác với nhạc sĩ Jean Claude Vannier, từ năm 1968 đến năm 1975. Cả hai tác giả này sau đó đều chuyển qua nghề sáng tác cho nhiều nghệ sĩ khác. Với bút danh Léonie, cô đã viết cho Christophe nhạc phẩm ‘‘Goodbye, je reviendrai’’ và nhất là tình khúc để đời ‘‘Main dans la main’’. Theo lời kể của tác giả Léonie Lousseau, cô gặp Christophe qua lời giới thiệu của tác giả Jean Claude Vannier, chuyên hoà âm cho các giọng ca ăn khách thời bấy giờ là Johnny Hallyday, Mike Brant và sau này ông sáng tác bản nhạc ăn khách nhất của Maurane (Sur une prélude de Bach). Khi gặp nhau, nam ca sĩ Christophe đã đánh đàn các khúc nhạc mà anh vừa sáng tác cho Léonie nghe. Cô cảm thấy rất ưng ý với giai điệu thứ nhì và chỉ cần chưa đầy mười phút cô chấp bút viết thành bài ‘‘Main dans la main’’. Thật ra, Léonie Lousseau đã viết ca khúc để mô tả tâm trạng đang yêu của chính bản thân mình (với nhà sản xuất Thierry Vincent). Thế nhưng, khi nghe qua, Christophe lại cảm thấy rất hứng thú như thể lời bài hát đã được viết cho riêng anh. Nhạc phẩm ‘‘Main dans la main’’ trở thành tình khúc của mùa hè năm 1972. Trong tiếng Việt, ca khúc này từng được tác giả Nam Lộc phóng tác thành nhạc phẩm ‘‘Cho quên thú đau thương’’. Nhờ thành công của nhạc phẩm ‘‘Main dans la main’’, Léonie Lousseau thu hút sự chú ý của nhiều nghệ sĩ khác, cô sau đó viết ca khúc cho các ca sĩ như Philippe Lavil và hợp tác với Mort Shuman, vào năm 1975 đặc biệt qua hai tình khúc ''So long John'' và ''L’autre Petit Prince''. Tuy nhiên, sau khi chia tay với người bạn đời và sau cái chết đột ngột của người em trai, Léonie dần dần xa lánh ánh đèn sân khấu, rồi cô giải nghệ hẳn từ giữa những năm 1980 trở đi. Hầu như vào cùng một thời điểm, nữ tác giả người Ý gốc Ai Cập Jacqueline Misrahi đã viết lời nhạc phẩm "Oh mon amour" cho nam danh ca Christophe, qua lời giới thiệu của bà Hélène Dreyfus. Trong làng nhạc Pháp, Jacqueline Misrahi là một  ngòi bút nổi tiếng, bà đã từng hợp tác với  rất nhiều ca sĩ Pháp (Enrico Macias, Sheila, Hervé Vilard, Claude François, Serge Lama, Gilbert Bécaud ....) rồi trở thành một tác giả sáng giá nhờ đặt lời cho tình khúc ''Paroles Paroles'' (Những lời mê hoặc) cho Dalida và Alain Delon. Còn về mặt giai điệu, bài hát "Oh mon amour" là của hai tác giả Olivier Toussaint và Paul de Senneville.  Sau giai đoạn hát nhạc trẻ xen kẻ những bản nhạc tình tha thiết (ướt át) với những điệu nhạc sôi động, nam danh ca Christophe vào đầu những năm 1970 bắt đầu thay đổi phong cách cũng như hình ảnh. Theo gợi ý của hai vợ chồng nhà sản xuất Hélène & Francis Dreyfus, Christophe trở thành một giọng ca chuyên hát nhạc trữ tình những với phong cách ''dandy'' nhiều hơn là ''crooner''. Một cách rất ngẫu nhiên mà có duyên, các nữ tác giả trong cách đặt lời ngọt ngào đường mật ấy đã giúp cho Christophe ngang nhiên bước vào thời hoàng kim, để rồi đánh cắp hàng triệu con tim.
    11/13/2021
    9:00
  • Tạp chí văn hóa - “NGƯỜI TIỄN ĐƯA”: Cái Chết là khởi đầu của một chuyến đi đẹp đẽ
    Có một sự thật đáng ngạc nhiên về “Người tiễn đưa” là tác phẩm này đã phải đi đường vòng để đến được với công chúng Nhật dù đây là một bộ phim của Nhật Bản. Phim của đạo diễn Takita Yõjirõ, dựa theo cuốn hồi kí của Aoki Shinmon, được ra mắt tại Liên hoan phim thế giới Montreal vào tháng 08/2008, đạt được giải thưởng lớn và một tháng sau đó mới có cơ hội ra mắt bản tiếng Nhật ở trong nước. Ngay lập tức, “Người tiễn đưa” (tên tiếng Anh là Departures) đã gây tiếng vang lớn, nhận được giải thưởng của Viện Hàn Lâm Nhật Bản, trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất năm, đồng thời, là bộ phim Nhật đầu tiên gặt hái danh hiệu cao quý “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất” trên thảm đỏ Oscar vào năm 2009.  Lần đầu tiên, người ta thấy một bộ phim về tầng lớp Burakumin thành công vang dội đến như vậy, dù trước đó, những nhà phát hành phim đã tỏ ra khá lo ngại. Đây là tầng lớp vốn bị xã hội và dư luận Nhật coi thường, thậm chí gán cho cái danh “dơ bẩn” bởi công việc mà họ chọn làm. Nhân vật chính của phim là Daigo Kobayashi, một nhạc công Cello trong dàn nhạc giao hưởng nhỏ tại Tokyo. Sau khi dàn nhạc bị giải thể, Daigo quyết định bán cây Cello mà anh đã phải vay tiền mua và quay trở về quê nhà ở Yamagata để bắt đầu lại từ đầu. Tại đây, anh tình cờ nhận công việc là một người chuyên làm dịch vụ tẩm liệm - thực hiện nghi thức tang lễ theo truyền thống của Nhật Bản. Dù tin vào triết lí đạo Phật nhưng cái chết vẫn là một đề tài cấm kỵ trong văn hóa Nhật. Bởi vậy, bộ phim, giống như một cuộc cách mạng, đem đến cái nhìn mới cho khán giả, đánh thức ở họ một suy nghĩ khác về cái chết và về những người làm công việc liên quan đến nó. Cái chết là một cánh cửa. Chết không có nghĩa là Hết. Chỉ là sự rời bỏ hiện tại và bước vào một thế giới khác. Chúc chuyến đi vui vẻ. Hẹn gặp lại. Từ một công việc gượng ép, bị coi thường và không có tương lai… Chẳng ai có thể tưởng tượng một nghệ sĩ dàn nhạc giao hưởng lại làm công việc này, ngay cả chính Daigo cũng chưa từng nghĩ đến. Chỉ vì hiểu nhầm một đoạn quảng cáo tuyển nhân viên mà anh đã tìm tới công ty Tang Lễ của ông Sasaki, nơi mà anh nghĩ là công ty du lịch, bởi dòng chữ “cần người chuẩn bị cho một chuyến đi”. Dù miễn cưỡng, Daigo ngay lập tức được nhận. Chưa hết, ông Sasaki còn dúi vào tay anh những đồng lương đầu tiên cho ngày làm việc đầu tiên khiến anh tiếp tục công việc mà chưa biết thực hư ra sao. Bản thân Daigo cũng cảm thấy xấu hổ, anh đã phải nói dối Mika, vợ mình, rằng anh làm cho một công ty tổ chức sự kiện.   Với người chưa từng nhìn thấy xác chết, ngay cả ngày mẹ mất, Daigo cũng đang đi du học, thì việc này thật sự quá khó khăn, đặc biệt là những con mắt kì thị, những sự khinh miệt mà người ta dành cho người làm nghề khâm liệm như anh. Ngày đầu tiên, Daigo phải tiếp xúc với thi thể một người phụ nữ già cô đơn, được phát hiện khi đã qua đời 2 tuần. Anh liên tục nôn mửa lúc phụ giúp Sasaki, cảm thấy nhục nhã khi bị người ta xa lánh ở trên xe bus. Anh lao vào nhà tắm công cộng, cố gắng gột sạch mùi tử khí và trở về nhà, nhìn thấy đồ ăn là toàn thân lại nôn nao. Phân đoạn Daigo bỏ dở bữa ăn, giữa căn bếp, lao vào ôm lấy Mika, gần như muốn lột tung đồ của vợ ra, ấp mặt vào ngực, vào bụng cô, sờ soạng khắp cơ thể cô khiến người ta cảm thấy một nỗi hoảng sợ hiện hữu. Có phải Daigo đang cố cảm nhận sự ấm nóng của một cơ thể Sống để cảm thấy được là mình còn đang Sống? Sự miệt thị tăng lên một bậc khi Yamashita, người bạn cũ của Daigo biết nghề nghiệp mà anh đang làm. Anh ta vô cùng lạnh nhạt khi gặp lại Daigo trên phố, không cho phép con gái của mình chào Daigo, thậm chí còn kéo bạn ra một góc, mắng mỏ rằng hãy kiếm một công việc tử tế hơn. Với họ, nghề Khâm liệm xác chết là một điều kinh khủng, đáng khinh bỉ. Chưa hết, Mika, người vợ yêu quý của Daigo, người luôn ủng hộ anh, cả việc anh bỏ chơi đàn, cả việc theo anh về quê sống, cũng tỏ ra ghê tởm chồng ngay lúc cô phát hiện sự thật. Daigo muốn xin lỗi, muốn ôm vợ nhưng Mika đã thẳng thừng từ chối. Cô đẩy chồng ra, thốt lên hai tiếng “Dơ bẩn” và quyết định sẽ về nhà mẹ đẻ. Mika đặt ra cho chồng hai lựa chọn, một là cô, hai là thứ việc “ghê tởm” mà anh đang làm. Không thể lột tả cho hết sự thất vọng của Daigo. Thế nhưng … tại sao anh lại không bỏ cuộc? Tại sao anh lại tiếp tục công việc không thể có tương lai này? Cái công việc mà hầu như không ai muốn làm, nhất là lại ở vào cái tuổi còn đang đầy hoài bão như Daigo? … Đến những thương yêu gắn bó kì lạ Có lẽ bởi, chỉ sau thời gian ngắn gắn bó với cái nghề có vẻ “kinh khiếp” ấy, Daigo đã được chứng kiến những đau khổ của những gia đình mất người thân. Anh thấy những mâu thuẫn, gây gổ, cãi vã… thấy cả những yêu thương và những niềm vui từ giã lạ kì.      Đó là người con trai đồng tính bị bố mẹ ruồng rẫy, không nhìn mặt. Nhưng sau khi được liệm, ngắm nhìn gương mặt con được trang điểm đẹp như một cô gái đích thực, họ nhận ra rằng dù là trai hay gái thì đó vẫn là con của họ.    Đó là người chồng miệt thị nghề nghiệp của ông Sasaki và Daigo là cái nghề “kiếm sống từ những người chết”, ấy vậy mà chỉ sau vài tiếng, khi chính mắt thấy hai người khâm liệm cho vợ thì ông ta đã chạy theo họ, đưa cho họ những miếng bánh trong lễ tang và cúi đầu cảm ơn vì lúc này chính là lúc vợ ông đẹp nhất. Đó là một ông già nằm trong quan tài được vợ và các con cháu hôn đầy son môi khắp mặt cùng những nụ cười vui vẻ hài hước và chào tạm biệt ông trước lúc hỏa táng. Và đặc biệt hơn cả, là ông chủ của Daigo, ông Sasaki, đã tìm thấy tình yêu với công việc khâm liệm người chết sau khi chính tay ông trang điểm cho vợ của mình lúc  bà qua đời. Giữa không khí yên tĩnh, mọi hành động đều thành kính. Những động tác tỉ mỉ tới từng chi tiết. Sự trân trọng thân xác người đã khuất. Hồi sinh một cơ thể chết, trao cho họ sự sạch sẽ và vẻ đẹp để cho họ bước sang thế giới bên kia. Công việc mà theo như Daigo cảm nhận, là thứ cần rất nhiều sự tôn kính và yêu thương. Cứ thế, trong Daigo xuất hiện những thay đổi không ngừng. Anh nhận ra những điều cao quý của con đường mà anh đã chọn. Việc anh rời bỏ Tokyo để về Quê Nhà, cũng không khác gì những con cá hồi đang cố bơi ngược dòng dù cuối cùng, có thể chúng biết là chúng sẽ chết. Chắc chắn, chúng muốn quay lại nơi chúng sinh ra để tìm lại bản thân mình.   Daigo đã nói với Mika rằng Chết thì có gì khác? Anh và Em, ta đều sẽ chết. Quay trở lại cảnh ở đoạn đầu phim, ta thấy trường đoạn Mika được bà hàng xóm tặng cho một con mực. Cả hai vợ chồng cùng hoảng khi thấy con mực còn sống. Họ vội vã đưa nó ra biển, nhưng tới nơi thì nó đã chết. Khoảnh khắc ấy thật sự khiến cả hai cùng sốc. Mãi cho tới về sau này, Daigo mới nhận ra rằng Chết chưa phải là Hết. Hơn thế nữa, cái chết giúp họ gần nhau hơn. Không chỉ có mối quan hệ giữa Mika và Daigo mà còn là cái nhìn của cậu bạn cũ Yamashita với anh. Mẹ của Yamashita bị ngã và qua đời. Họ cùng ngồi đó, chứng kiến Daigo khâm liệm cho bà bằng sự cẩn trọng, bằng tình yêu thương và niềm vui mà anh đang làm - là giúp bà sửa soạn thật đẹp - thì hết thảy mọi khinh bỉ, mọi coi thường, mọi ghê tởm đều biến mất. Thay vào đó là những giọt nước mắt và nụ cười. Trải suốt bộ phim, điều đau đáu nhất của Daigo chính là người cha phản bội đã bỏ mẹ con anh để đi với người đàn bà khác lúc anh lên 6 tuổi. Daigo thậm chí không thể nhớ nổi mặt ông. Tất cả những gì anh còn giữ lại là hòn đá cảm xúc mà cha anh đã đặt vào bàn tay anh trước khi ông bỏ nhà đi. Tương truyền rằng, vào thời khởi thủy, lúc người ta chưa tìm ra chữ viết, người ta đã chọn cách tặng Đá cho nhau để bày tỏ những cảm xúc của mình. Khi nghe tin cha mất, Daigo gượng gạo đồng ý đi với Mika tới nhận thi thể của ông. Trước sự vô tình của những nhân viên tang lễ ở đây, Daigo quyết định sẽ làm nghi lễ khâm liệm cho người cha mà anh vẫn thấy vô cùng xa lạ. Vẻ lạnh nhạt vô cảm của Daigo bỗng biến mất khi anh thấy cha anh nắm chặt trong lòng bàn tay hòn đá cảm xúc mà anh đã tặng cho ông. Daigo thốt lên một tiếng Cha, rưng rưng nước mắt cạo râu và làm đẹp cho ông, thực hiện nghi lễ cuối cùng trong đời Sống để đưa ông về với đời Chết. Anh nhẹ nhàng đặt hòn đá ấy vào bụng Mika, nơi mà cô đang mang đứa con tương lai của anh. Đó, chẳng phải là một sự tiếp nối hay sao? Cái Chết là Khởi đầu? “Người tiễn đưa” nói về nghề khâm liệm người chết nhưng tuyệt nhiên không có những cảnh ghê rợn hay u ám. Trái lại, bộ phim có những cảnh quay tuyệt đẹp, trong sáng, những cánh đồng bát ngát trắng tuyết hay những ngọn đồi rực rỡ cánh hoa đào bay trong gió. Thêm vào đó là phần âm thanh tuyệt vời lắng đọng của những bản Cello da diết ngọt ngào. Thì ra, Daigo đã không hề đọc nhầm những dòng quảng cáo đó. Đây, đích thực là công việc của người “giúp đỡ những người khác chuẩn bị cho một chuyến đi”. Chúc chuyến đi vui vẻ! Hẹn gặp lại!
    11/13/2021
    10:05
  • Tạp chí văn hóa - Ba gương mặt Pháp góp phần bảo tồn công lao người lính Việt Nam ở vùng Provence
    Vùng Provence, ở miền nam, còn giữ rất nhiều di tích ghi dấu chân những người lính thợ Việt Nam tình nguyên hoặc bị cưỡng chế đến Pháp trong hai Thế Chiến, từ ngôi chùa Hồng Hiên ở Fréjus đến những đài tưởng niệm những người « Chết vì nước Pháp ».  Cuộc sống, công lao, mất mát thiệt thòi của họ đã được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học. Nhưng trên thực địa, vẫn có những người thầm lặng bảo tồn, phổ biến lịch sử trong khi tại nhiều nơi vết tích đang dần mai một. Nếu hỏi chuyên gia về lính thợ Đông Dương trong Thế Chiến I của đại học Aix-Marseille, người ta sẽ nhắc đến nhà nghiên cứu Brigitte Sabattini. Còn hỏi về người đấu tranh nhiệt tình nhất để bảo vệ công lao của lao động Việt Nam trong hai Thế Chiến ở Saint-Chamas, chắc chắn đó là nhà giáo Jacques Lemaire. Còn anh em nhà Trịnh, con của một phiên dịch người Việt trong Thế Chiến II, được cả xã Salin-de-Giraud biết đến. Ba người sống ở ba nơi khác nhau, làm những nghề khác nhau, nhưng « những người lính thợ Đông Dương » đã kết nối họ với nhau. Lập danh sách những người lính Việt Nam chết ở vùng Provence Bà Brigitte Sabattini là giảng viên đại học Aix-Marseille. Chuyên môn của bà là cổ sử nhưng vô tình lại gắn bó với một phần lịch sử Đông Dương : « Năm 2014, nhóm sinh viên của tôi thực hiện chủ đề « Origine » (tạm dịch : Nguồn gốc). Trước đó năm 2013, tôi cũng đã có nhiều sinh viên nghiên cứu về Hồng Hiên Tự ở Fréjus. Tôi đã gợi ý họ tìm hiểu về những người Đông Dương đến Pháp trong Thế Chiến I, chết vì nước Pháp và yên nghỉ ở nghĩa trang Luynes và sau đó chúng tôi phát hiện ra công trình tưởng niệm Aix. Chúng tôi phát hiện ra rằng ngoài những lính tập, chủ yếu được điều từ Fréjus đến và yên nghỉ ở nghĩa trang Luynes, còn có nhiều lính thợ. Vì thế, tôi đã liên lạc với các địa phương nơi có những nhà máy mà lính thợ làm việc trong thời chiến, trong đó có thành phố Saint-Chamas, một trong những nơi sản xuất quan trọng. Hiện giờ, cùng với Jacques Lemaire, đối tác của chúng tôi ở Saint-Chamas, chúng tôi sắp hoàn thành việc lập chân dung những người đã chết ». Lập bia tưởng niệm lính thợ Việt Nam trong Thế Chiến II ở Saint-Chamas Ông Jacques Lemaire được bà Brigitte Sabattini nhắc tới lại đặc biệt hơn. Ông là người miền bắc Pháp, theo vợ xuống miền nam và dạy học ở trường cấp II. Thời gian đầu ông cứ thắc mắc về những tên nước ngoài ghi trên mộ ở nghĩa trang, sau này ông được biết là những « người An Nam » chết ở Nhà máy thuốc súng Saint-Chamas. Ông bị cuốn theo đam mê của bố vợ Paul Lafran, một người chuyên nghiên cứu khảo cổ trong vùng và lịch sử của Nhà máy thuốc súng bị đóng cửa vào năm 1974. Hiện giờ ông Jacques Lemaire là chủ tịch bảo tàng Paul Lafran, được đặt theo tên bố vợ của ông. « Bảo tàng còn giúp khách tham quan khám phá những bộ sưu tập khác của chúng tôi, trong đó có bộ sưu tập khảo cổ, nhân chủng học, dành một phần dành nói về lịch sử Nhà máy thuốc súng và những kỉ vật gắn kết chúng tôi với những người Việt từng sống ở đây. Chúng tôi có mô hình một chiếc thuyền buồm do ba công nhân người Việt tự làm. Chúng tôi còn có bức họa chân dung một thanh niên, thời đó gọi là « người Đông Dương » do một họa sĩ gốc vùng Provence và nổi tiếng thế giới vẽ, đó là họa sĩ René Seyssaud, người được coi là nhà tiên phong của trường phái dã thú ». Ông Lemaire nhớ lại cuộc gặp bất ngờ và không thể quên với một người phụ nữ, sau này ông được biết là Danielle, con gái của một người lính thợ Việt Nam làm việc ở Nhà máy thuốc súng trong Thế Chiến II : « Tôi dẫn cô ấy đến bảo tàng và khi nhìn thấy mô hình con tầu, cô ấy thốt lên : « Cha tôi là người làm cái này với hai công nhân khác ». Sau đó tôi tìm lại được bức ảnh cha của Danielle chụp chung với cô, lúc còn nhỏ. Thật ngoài sức tưởng tượng. Lúc đó tôi rất xúc động. Cha của Danielle làm việc ở nhà máy thuốc súng. Lúc đó sắp hết chiến tranh, ông tìm được tình yêu với một phụ nữ duyên dáng. Họ kết hôn và có ba người con, Danielle, một cô con gái khác và một cậu con trai. Cha của họ yêu cầu được tiếp tục làm việc ở nhà máy thuốc súng vào năm 1946. Vào khoảng đầu năm 1947, để cảm ơn ông giám đốc vì đã quan tâm đến đội ngũ thợ, họ quyết định làm mô hình con tầu này để tặng giám đốc. Trong thời gian dài, bản ma-ket này được bày trong văn phòng giám đốc. Nhưng khi nhà máy đóng cửa (năm 1974), họ đã cất mô hình đó vào kho, may là họ không vất đi. Khi chúng tôi tìm thấy mô hình con tầu, nó bị hỏng khá nặng. Nhưng may mắn là chúng tôi lấy lại được và chúng tôi hài lòng về nó ». Ở thành phố Saint-Chamas hiện chỉ có bia tưởng niệm những người lính thợ Đông Dương chết trong Thế Chiến II được gắn trên tường nhà triển lãm trong khu bảo tồn La Poudrerie de Saint-Chamas. Tuy nhiên, ông Jacques Lemaire và bà Brigitte Sabattini đang cố gắng để vào năm 2022 gắn bên cạnh đó một tấm bia khác ghi công những người lính thợ Đông Dương phục vụ nước Pháp trong Thế Chiến I. « Vì chúng tôi quan tâm đến cùng chủ đề nghiên cứu, bà Brigitte Sabattini giải thích, nên chúng tôi trao đổi thông tin với nhau. Yves Shao là con của một người Hoa, ông ấy nghiên cứu về lính thợ người Hoa trong Thế Chiến nên có những tài liệu liên quan đến lính thợ mang quốc tịch khác. Chính ông là người gửi cho tôi một bản báo cáo về lính thợ Đông Dương ở Saint-Chamas. Chúng tôi chỉ là một nhóm nhỏ gồm những nhà nghiên cứu và đam mê hồi ức, tưởng nhớ và cố gắng làm hồi sinh sự quan tâm này đối với người Đông Dương đến Pháp trong Thế Chiến I và II. Dĩ nhiên thời Thế Chiến II được biết đến hơn ». Công đoạn cuối cùng của hai nhà nghiên cứu là đối chiếu với Sổ hộ tịch được lưu ở tòa thị chính tên những người Việt qua đời ở Saint-Chamas. Nhờ ông thị trưởng can thiệp, họ đã có thể tra cứu ba bản gốc, chữ viết bắt đầu nhòe và giấy ố vàng. « Thật là xúc động khi được chạm vào những cuốn Sổ hộ tịch này vì trước đó tôi chỉ tra cứu được trên microfilm, khó mà so sánh được. Cuối cùng tôi có thể sẽ hiểu được những gì được viết vì có những họ tên mà tôi không thể hiểu nổi ».     Dựng đài tưởng niệm ở Salin-de-Giraud Tương tự với Saint-Chamas, xã Salin-de-Giraud cũng hai năm một lần tổ chức lễ tưởng niệm những người lính thợ Việt Nam tại Pháp trong Thế Chiến II. Ông Jacques Lemaire đã gặp ông Claude Trịnh trong một dịp như vậy. Công trình kỉ niệm khắc hình một người lính thợ chân ngập trong bùn, đầu cuốn khăn ngăn nắng hè vùng Provence là cả một chặng đường đấu tranh của hội M.O.I (Nhân lực Đông Dương), trong đó anh em nhà họ Trịnh đóng góp nhiều công sức. Ông Claude Trịnh giải thích : « Khi chúng tôi dựng công trình kỉ niệm này, có nhiều con cháu của lính thợ Đông Dương không đồng tình, một số thì có ý tưởng khác. Dĩ nhiên là không phải tất cả mọi người có chung cách nhìn. Còn chúng tôi nghĩ rằng công trình kỉ niệm thì mãi ở đó, trong khuôn viên của chi nhánh thị chính và phòng du lịch, hàng năm có hàng nghìn khách du lịch tham quan vùng Camargue và Salin-de-Giraud. Khi tôi còn nhỏ, trong nghĩa trang của làng có những ngôi mộ được xây theo phong cách Việt. Chúng tôi cứ thắc mắc về chúng. Ngay cả bố tôi lúc đó cũng không biết tại sao lại có những phần mộ đó. Bởi vì lịch sử bị phai dần, vì thế, công trình kỉ niệm cho phép lưu lại và nhắc lại lịch sử ». Như lời ông Claude Trịnh nói, một số vết tích còn lại từ Thế Chiến I ở Salin-de-Giraud có nguy cơ bị san bằng, như những dãy nhà vòm nằm trong khu vực trước đây là nhà máy thuốc súng. « Trong chiến tranh 1914-1918, đây là những nhà kho chứa bom được sản xuất ở Nhà máy thuốc súng và một vài dãy nhà dùng để chứa súc vật, có thể nói là chuồng ngựa vì mọi di chuyển trong nhà máy đều dùng xe ngựa. Những chủ sở hữu những khu đất này đang bỏ mặc vì họ thấy không có ích gì. Lý tưởng là biến khu vực này thành di tích lịch sử, nhưng buồn là không ai muốn làm. Còn hiện giờ chúng tôi chỉ biết tranh thủ ngắm những tàn tích từ thời Thế Chiến. Trong Thế Chiến I, có khoảng 700 lính thợ Đông Dương làm việc ở Nhà máy thuốc súng Salin-de-Giraud ». Sau hơn 10 năm tích cực bảo vệ công lao của thế hệ trước, anh em nhà họ Trịnh rút dần vào hậu trường, giao lại trọng trách cho thế hệ mới. Con gái của ông Lê Hữu Thọ, người đưa ra ý tưởng khôi phục sự thật về công lao của lính thợ Việt Nam ở vùng Camargue và là tác giả cuốn Histoire d’un Petit mandarin, hiện giữ chức chủ tịch hội M.O.I. « Tại sao chúng tôi lại chọn tên M.O.I ? Vì ban đầu chúng tôi nói đến Lao động Đông Dương (Travailleurs Indochinois), sau đó là Nhân lực Đông Dương (Main d’œuvre Indochinoise, M.O.I.) và từ này cũng được chính phủ Pháp sử dụng. Sau đó, khi chúng tôi vận động xây dựng công trình kỉ niệm những người lính thợ Đông Dương, chúng tôi lấy tên là Mémorial des Ouvriers Indochinois. Và khi công trình đã được hoàn thành thì phải tưởng nhớ đến những người lính thợ, nên chúng tôi lấy tên là Mémoire des Ouvriers Indochinois ».
    11/12/2021
    9:35

Über TẠP CHÍ VĂN HÓA

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ VĂN HÓA, TẠP CHÍ ÂM NHẠC und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.at-App

TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VĂN HÓA: Zugehörige Podcasts

TẠP CHÍ VĂN HÓA: Zugehörige Sender

Information

Wegen Einschränkungen Ihres Browsers ist dieser Sender auf unserer Website leider nicht direkt abspielbar.

Sie können den Sender alternativ hier im radio.at Popup-Player abspielen.

Radio