Partner im RedaktionsNetzwerk Deutschland
Höre {param} in der App.
Höre TẠP CHÍ VIỆT NAM in der App.
(7.565)(6.472)
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
StartseitePodcastsNachrichten
TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM
Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

hinzufügen

Verfügbare Folgen

0 von 24
  • Quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long bền vững, giảm nghèo
    Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 sẽ trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả của quốc gia, khu vực và thế giới. Đây là mục tiêu được đề ra trong Quy hoạch vùng đầu tiên giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, triển khai theo Luật Quy hoạch của Việt Nam và được công bố tại thành phố Cần Thơ ngày 21/06/2022. Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long được giám đốc Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam đánh giá (1) là “một cột mốc quan trọng” cho chính phủ Việt Nam. Bản quy hoạch “nêu bật được tư duy và tầm nhìn mới cho khu vực”, “đưa ra được những cơ hội to lớn để tạo ra các giá trị mới và mang lại sự chuyển đổi, cũng như tiềm năng tăng trưởng xanh, bền vững, đồng đều và thịnh vượng lâu dài trong khu vực”. Vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn được coi là vựa thóc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và đóng góp lớn cho nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, tỉ lệ huyện có số hộ nghèo so mức trung bình trên cả nước lại tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2015-2019, đặc biệt do các vấn đề biến đổi khí hậu và gần đây là hệ quả của đại dịch Covid-19. Lượng người di cư từ vùng này chiếm khoảng 37% tổng số người di cư trong cả nước vào năm 2020, theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 23/06, tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch kiêm giám đốc Quỹ Bảo tồn Mekong (Mekong Conservancy Foundation, MCF), giải thích thêm những bất cập mà đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt : “Bản quy hoạch này ra đời đúng vào lúc mà sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long đã tới “ngưỡng”. “Ngưỡng” ở đây có hai ý nghĩa. Nghĩa thứ nhất về mặt diện tích, hiện nay diện tích đất canh tác trên đầu người ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ được 0,7 hecta. Với diện tích nhỏ như vậy, người nông dân bắt buộc phải tăng vụ, thâm canh hay phải làm rất nhiều vụ một năm mới đủ ăn, đủ xài. Tiếp theo, năng suất cây trồng, ví dụ cây lúa, năng suất hiện giờ đang đạt tới đỉnh, nghĩa là được tối đa 7-8 tấn/hecta một vụ. Thâm canh làm 2-3 vụ/năm nên đất đai cũng đến lúc bị kiệt quệ. Yếu tố thứ hai là Quy hoạch của Đồng bằng sông Cửu Long. Bấy lâu nay chưa có Luật Quy hoạch, do đó mỗi tỉnh tự quy hoạch theo tỉnh, mỗi ngành tự quy hoạch theo ngành cho nên trong quá khứ, những quy hoạch đó bị chồng chéo nhau, thậm chí có những cái chọi nhau. Điều này làm cho người dân, kể cả chính quyền địa phương của nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua phải đối phó với rất nhiều bất cập, đôi khi rất lúng túng. Ngoài ra, điều quan trọng là nhiều quy hoạch chồng chéo, không được minh bạch, rõ ràng, khiến phải điều chỉnh, sửa sang liên tục, làm cho các định chế tài chánh quốc tế, như Ngân Hàng Thế Giới hoặc Ngân Hàng Phát Triển Châu Á lúng túng khi muốn đầu tư hoặc cho vay tiền… Họ không biết dự án đó sẽ được làm hay không làm. Và quan trọng nhất là đối với giới đầu tư, những người muốn bỏ tiền làm ăn lâu dài với người dân ở đồng bằng, họ không biết phải đầu tư vô chỗ nào”. Bỏ tư tưởng chỉ tập trung vào cây lúa để bảo đảm an ninh lương thực Tiến sĩ Dương Văn Ni nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Luật Quy hoạch năm 2017 tạo nền móng cho Quy hoạch cấp vùng đầu tiên của Việt Nam và tạo bộ khung cho thành phố Cần Thơ, cùng với 12 tỉnh trong vùng phát triển. Ngoài ra, Quy hoạch lần này mang tính khách quan, do được nhiều định chế nước ngoài tư vấn, tổng hợp hết những yêu cầu phát triển của các ngành, các địa phương, tính cả những yếu tố bất lợi như áp lực từ các nước thượng nguồn sông Mê Kông, biến đổi khí hậu toàn cầu… “Trước đây, trong thời gian dài, nền nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long chịu áp lực rất lớn từ chính sách an ninh lương thực, thực ra chỉ là trồng lúa. Do đó, chúng ta làm bằng mọi giá, gần như là mọi nơi, mọi chỗ, mọi nguồn lực của xã hội từ vốn liếng đến các chính sách đều tập trung để phát triển cây lúa. Ngay cả những vùng không thuận lợi lắm cũng cố gắng trồng thật nhiều lúa, thành thử ra nó đẩy người dân vào tình huống rất khó khăn, lúc hạn hán hay xâm nhập mặn thì lại thiếu nước ngọt, làm cho việc sản xuất hàng ngày của người dân gặp rất nhiều khó khăn. Tháo gỡ đầu tiên có thể nói chính là từ nghị quyết 120, được phê chuẩn cuối năm 2017. Nghị quyết đó lần đầu tiên xác định lại vai trò quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long, dựa trên ba trụ cột chính. Trụ cột thứ nhất là dựa trên thủy sản. Trụ cột thứ hai là trên cây ăn trái. Thứ ba mới là lúa gạo. Trong đó, lúa gạo là vấn đề số 1 vì lúa gạo bảo đảm về vấn đề an ninh lương thực. Nói như vậy để thấy nền nông nghiệp phải chuyển dịch theo chiều sâu. Có nghĩa là bây giờ không sản xuất quá nhiều số lượng nữa, mà phải chú ý vào chất lượng, bởi vì chất lượng mới có thể làm tăng thu nhập của người dân. Đó là điểm mấu chốt”. Nguồn nước : Biến bất lợi thành ưu điểm để định hình ba trụ cột Điểm khác biệt quan trọng nhất là Quy hoạch lần này đặt trọng tâm vào nguồn nước ở đồng bằng sông Cửu Long. Tiến sĩ Dương Văn Ni giải thích tiếp : “Từ việc dựa trên ba trụ cột là thủy sản, cây ăn trái và lúa gạo, việc quy hoạch đồng bằng lần này phải bám sát vào mục tiêu của nghị quyết 120, do đó chia đồng bằng theo những vùng sinh thái dựa trên vấn đề cốt lõi nhất là nguồn nước, một trong những tài nguyên chủ lực : Có nguồn nước thì mới tính đến chuyện sản xuất. Cũng nghị quyết 120 cũng cởi trói cho chúng tra về nguồn nước. Hồi trước, mình nhìn nước lũ hay nước mặn như kẻ thù nên phải tìm mọi cách để chống trọi. Còn trong nghị quyết 120 thì khẳng định lại : nước lũ, nước lợ hay nước mặn đều là tài nguyên. Và từ chuyển dịch về khái niệm đó nên mới chia đồng bằng thành ba vùng : Vùng thượng là vùng nước ngọt quanh năm ; thứ hai là vùng xen lẫn mặn-ngọt, hay còn gọi là vùng nước lợ ; thứ ba là vùng ven biển có nước mặn gần như quanh năm. Dựa trên trụ cột từ ba nguồn nước đặc thù của đồng bằng sông Cửu Long, ở mỗi châu thổ vùng như vậy, người ta chia ra thành những tiểu vùng sinh thái mang tính đặc thù dựa trên tài nguyên đất và chất lượng của nguồn nước, thời gian thay đổi nguồn nước đó trong năm chẳng hạn. Từ những tiểu vùng sinh thái đó, chúng ta sẽ vực dậy cho vấn đề sản xuất cho mạnh hơn. Những vùng có nước ngọt quanh năm, chúng ta có thể nghĩ đến sản xuất lúa, cây trồng, chăn nuôi thích nghi với nước ngọt. Còn ở những vùng có nước mặn nhiều, chúng ta sử dụng cây trồng, vật nuôi thích nghi với nước mặn”. Cải thiện môi trường để phát triển du lịch sinh thái Trong tương lai, vùng đồng bằng sông Cửu Long dành “1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao nhằm nâng cao giá trị, thu nhập của người dân, bảo đảm an ninh lương thực và phục vụ chế biến, xuất khẩu” (2). Chỉ thị số 10/CT-Tg được phó thủ tướng Lê Văn Thành ký ngày ngày 18/06 nhấn mạnh đến ưu tiên phát triển các sản phẩm chủ lực, đặc sản. Mục tiêu đề ra là phát triển đồng bằng sông Cửu Long trở thành thương hiệu quốc tế về du lịch nông nghiệp-nông thôn, du lịch sinh thái. Về điểm này, tiến sĩ Dương Văn Ni giải thích thêm : “Bây giờ nông nghiệp không còn nhìn vào điểm cố gắng đạt nhiều sản lượng nữa, mà nhìn vào chiều sâu, vào hiệu quả kinh tế. Do đó, nó lồng ghép thêm những khả năng tăng thu nhập cho người dân, ví dụ làm du lịch. Khi chúng ta giữ gìn sinh thái tốt, chọn lựa cây trồng, vật nuôi cho phù hợp, kiểu canh tác không gây ô nhiễm, độc hại đến cây trồng, vật nuôi thì đồng nghĩa với việc chúng ta phục hồi hệ sinh thái thì chúng ta mới có cơ may khai thác du lịch. Như vậy, trong quy hoạch kỳ này, chúng ta tìm mọi cách, thứ nhất là để phục hồi lại hệ sinh thái của đồng bằng, thứ hai là làm sao để phát huy hết nội lực của tài nguyên đồng bằng”. Quy hoạch còn chú trọng đến việc cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông với mục tiêu đến năm 2030 xây mới và nâng cấp khoảng 830 km đường bộ cao tốc, khoảng 4.000 km đường quốc lộ. Ngoài mục tiêu biến đồng bằng sông Cửu Long thành nơi đáng sống đối với người dân, mọi nỗ lực trong Quy hoạch còn hướng đến việc quản lý sử dụng tài nguyên một cách hợp lý để cải thiện sức khỏe môi trường nhằm ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu, theo giải thích của tiến sĩ Dương Văn Ni : “Điểm đặc biệt là quy hoạch này được chuẩn bị chu đáo từ mặt chính sách cho đến hướng dẫn về cách thực hiện quy hoạch này, kể cả chuẩn bị về vấn đề tiền bạc để thực hiện. Đặc biệt là chúng ta có rất nhiều nhà tài trợ hoặc là những định chế tài chính hay là Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng Châu Á…, họ rất sẵn sàng hỗ trợ, cho Việt Nam vay để phát triển Quy hoạch này. Đây là điểm đặc biệt so với những quy hoạch trước đây. Về những quy hoạch trước đây, nhiều khi quy hoạch rồi nhưng không biết lấy tiền ở đâu để làm. Lần này thì có cả cơ chế, chính sách, kinh phí. Nói như vậy để chúng ta thấy việc thực thi quy hoạch này có khả năng thành công rất lớn”. Ngân Hàng Thế Giới, một đối tác hỗ trợ chính phủ Việt Nam trong việc lập Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cam kết tiếp tục hỗ trợ khi Quy hoạch được triển khai. Cụ thể là các cán bộ của định chế tài chính này đã bắt đầu chuẩn bị một chương trình tổng hợp để thực hiện Quy hoạch vùng. Tuy nhiên, “chuyển từ tầm nhìn và quy hoạch sang thực hiện luôn là một thách thức” cho nên khi phát biểu tại lễ công bố ngày 21/06, bà giám đốc quốc gia Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam đã nêu ba điểm quan trọng mà phía Việt Nam cần cân nhắc khi tiến hành : Thứ nhất, đảm bảo tập trung cao độ vào hiệu quả và hiệu lực ; thứ hai, đảm bảo sự phối hợp theo chiều dọc và chiều ngang ; thứ ba, đảm bảo quy hoạch vùng luôn được cập nhật. (3) Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch kiêm giám đốc Quỹ Bảo tồn Mekong, vì là quy hoạch cấp vùng đầu tiên được thực hiện theo Luật Quy hoạch năm 2017 nên Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể không hoàn hảo 100%, nhưng đặt nền tảng để tiếp tục phát triển hoàn thiện hơn. “Về điểm yếu, chúng ta đang làm ở mức độ cấp vùng, nên chưa đi vào ngóc ngách, vào thực tế của người dân cho nên sẽ phải cần rất nhiều sự sáng tạo, thông tin cập nhật và chính xác của từng địa phương. Rồi địa phương mới bắt đầu làm một quy hoạch chi tiết cho việc minh bạch. Cho nên còn cần thêm một bước nữa mà bước này cần vào sự quyết tâm của chính quyền địa phương và kể cả người dân ở địa phương đó. Chúng ta phải chia sẻ những kinh nghiệm, đặc biệt là vốn sống, những tri thức bản địa. Nếu tích hợp được đầy đủ những yếu tố đó, tôi tin rằng bản Quy hoạch cuối cùng cho từng địa phương, từng tỉnh sẽ tiếp cận tốt hơn vào đời sống thực tế của người dân”. ******** (1) (3) Bài phát biểu của bà Carolyn Turk, giám đốc quốc gia Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam tại Lễ Công bố Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ, ngày 21/06/2022. (2) Báo Chính phủ, ngày 18/06/2022.
    6/27/2022
    11:15
  • Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Tranh đan, ký ức và những dấu ấn mỹ thuật đương đại
    Lê Quang Đỉnh, được quốc tế biết đến với tên Đinh Q.Lê, là một nghệ sĩ sinh ở Việt Nam, theo học mỹ thuật tại Mỹ, nổi danh trong giới mỹ thuật đương đại thế giới với loại hình tranh đan từ những năm 1990. Suốt hơn 30 năm qua, các tác phẩm của anh, không chỉ có tranh đan mà còn có các video 3D, tác phẩm đan không gian 3 chiều … đã hiện diện ở nhiều bảo tàng, trung tâm mỹ thuật danh tiếng ở Mỹ, Úc, Nhật, Pháp … Còn ngay tại Việt Nam, nơi anh trở về sinh sống và lập nghiệp sau gần 20 năm ra phải xa quê hương do hoàn cảnh chiến tranh, nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh đã ghi dấu ấn với Sàn Art tại Thành phố Hồ Chí Minh, một không gian mỹ thuật đương đại có tiếng. Ngày 09/02/2022, nhân chuyến đi của nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh đến Paris tham gia khai mạc triển lãm cá nhân « Sợi đan ký ức », gặp gỡ báo chí và công chúng tại bảo tàng Quai Branly, một bảo tàng danh tiếng của Pháp về nền văn minh và nghệ thuật của châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao đổi với nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh. RFI : Xin chào nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh, khởi đầu, từ những năm 1990, anh được quốc tế biết đến với tranh đan, khi anh là sinh viên mỹ thuật tại Mỹ. Điều gì khiến anh đến với tranh đan ? Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Lúc đó mình muốn nói lên câu chuyện của mình. Nhưng một người như mình, là người châu Á, người Việt Nam, câu chuyện của mình bị họ gạt sang một bên hết. Mình không phải nhóm chính bên Mỹ, thành ra họ không quan tâm. Bây giờ thì họ quan tâm nhiều hơn, nhưng khi đó, chẳng hạn trong những phim của Hollywood, cách mà họ dựng người Việt Nam trong phim thì người Việt Nam chỉ như cái bóng, chỉ như trong bóng tối, chỉ là vai lẻ bên ngoài thôi, cũng như có những phim không có người Việt Nam nói bằng tiếng Việt nữa. Đỉnh thấy là những câu chuyện của mình không ai nói. Mỗi ngày xem TV, mình chỉ thấy những câu chuyện của người khác, không thấy bóng dáng mình, không thấy những câu chuyện của những người như mình trong đó. Có thể là cần một câu chuyện khác kết nối vào đó thì tấm hình mới đầy đủ. Lúc đó Đỉnh nghĩ phải kết nối, phải đan những câu chuyện mới vào. Và thế là mình có ý tưởng cắt nhiều tấm hình ra rồi đan lại với nhau, để tạo thành một tấm hình hoàn hảo hơn, nói được nhiều câu chuyện đã bị gạt sang một bên. Hồi nhỏ, cô của Đỉnh có dạy Đỉnh đan lát, nên khi làm những cái này thấy rất dễ, mình thấy mình có sẵn năng khiếu đó rồi, chỉ cắt tấm hình ra rồi đan và mình có cảm giác mình đã làm rất nhiều rồi, chứ không phải mới lần đầu làm. Khi mình làm xong những tấm hình đó thì những curator bên Mỹ họ thấy là loại tác phẩm này lạ, ngộ, mới và cách suy nghĩ cũng mới. Họ bắt đầu triển lãm tác phẩm của mình. Về kỹ thuật, đại khái làm tranh đan rất là dễ, mình chỉ đan một lên một xuống hoặc theo công thức thôi, rất là dễ, chỉ cắt rồi đan lại với nhau thôi. Nhưng cách Đỉnh làm thì nó khác biệt hơn người ta. Đỉnh lựa chọn khúc nào mình muốn đan, khúc nào mình không muốn đan, cái hình nào mình muốn giấu ở lớp dưới, lớp nào mình muốn cho người ta xem ở trên, hay lớp nào mình muốn cho kết nối với nhau để tạo ra một tầm nhìn khác. RFI : Có thể nói xuyên suốt các tác phẩm của anh là những ký ức được đan cài với nhau và phần nhiều gợi nhắc đến chiến tranh …  Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Những gì Đỉnh làm thường nói lên những câu chuyện, những ký ức phức tạp, những chuyện có thể nói là đã xảy ra và có ảnh hưởng đến cuộc đời của Đỉnh, như chiến tranh Việt Nam và chiến tranh giữa Việt Nam và Miên Đỏ (Khmer Đỏ) hồi những năm 1970. Những câu chuyện mà Đỉnh dựng lên thường là những câu chuyện mà thế giới chưa từng nghe, và một phần nói về ký ức. Ký ức của mình cũng như những mảnh vỡ, làm sao mình kết lại được, trong khi những mảnh vỡ đó cũng bị « nhiễm » bởi những mảnh vỡ khác. Làm sao mà những mảnh vỡ mình gắn lại nó tạo thành một ký ức vững vàng hơn ? Mình phải đánh giá ký ức của mình, nó có thật không hay là nó đã bị « nhiễm » bởi những thứ khác, nó còn chính xác như câu chuyện đã xảy ra không ? Có những ký ức không còn như mình tưởng và ảnh hưởng đến những suy nghĩ của mình. RFI : Trong số những ký ức chiến tranh đó, có thể nhắc tới serie tranh đan From Vietnam to the Hollywood, video South China Sea Pishkun? Những ký ức anh muốn khơi gợi lên là gì ? Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Serie From Vietnam to Hollywood (Từ Việt Nam tới Hollywood) là những hình về chiến tranh Việt Nam và về Việt Nam, làm từ những hình Đỉnh chụp từ những phim Hollywood về chiến tranh Việt Nam và những tấm hình nổi tiếng về chiến tranh việt Nam mà các nhà báo đã chụp và đăng trên báo thế giới, cũng như những tấm hình gia đình các các nhân chụp trong chiến tranh (…) Trong những tác phẩm đó, mình đan các ký ức Hollywood dựng lên, những ký ức của các nhà báo, cả những ký ức của những cá nhân, những người và gia đình sống trong chiến tranh Việt Nam. Mình đan lại với nhau để nói lên một ký ức lẫn lộn giữa giả và thật, giữa Hollywood và điều người ta gọi là second memory, ký ức đã qua những người khác, cũng như những ký ức của các nhiếp ảnh gia Việt Nam, rồi ký ức cá nhân của mình. Video South China Sea Pishkun thì dựa trên sự thật xảy ra là vào ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, ngày 30/04/1975, quân miền bắc tràn vào, rất nhiều trực thăng của Mỹ bay ra biển Đông, South China Sea, nhưng lúc đó nhiều quá, không đủ chỗ đậu trên tàu hạm của quân đội Mỹ, nên họ phải vứt bỏ những chiếc trực thăng đó. Trong chiến tranh việt Nam, quân đội Mỹ đem đến 5.000 trực thăng có gắn súng. Họ nghĩ rằng những vũ khí đó có thể giúp họ trong chiến tranh, nhưng rốt cuộc cuối chiến tranh họ cũng phải vứt chúng xuống biển như vứt rác, chúng bị biển lấp đi, biến mất, như bị tẩy hết dấu tích. Đại khái đó là những chuyện mình đã xem, đã thấy, nhưng mình không có suy nghĩ gì sâu sắc. Rồi mình đem đến những câu chuyện đó để suy nghĩ, để đánh giá nó ảnh hưởng sao trong xã hội này, ảnh hưởng sao đến những ký ức của mình … RFI : Anh đã sang Mỹ học tập, sự nghiệp nghệ thuật của anh khởi đầu từ Mỹ. Rồi sau đó anh lại quyết định về lập nghiệp tại Việt Nam. Điều gì đã thúc đẩy anh quyết định như vậy ? Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Về quyết định về Việt Nam thì có nhiều chuyện lắm. Nhưng điểm chính là Đỉnh nghĩ mình chưa bao giờ ở đúng vị trí khi mình ở nước Mỹ cả. Nó có gì đó cứ sai sai, mình cứ tiếp tục cố gắng để hòa nhập. Đỉnh không thích những điều đó. Tại sao mình cứ phải cố gắng. Tại sao mình không bình thường được, mà cứ phải luôn luôn đấu tranh để hòa nhập ? Lâu lâu lại có vài người Mỹ trắng kỳ thị mình, nhắc mình không phải người ở đó. Mình không thích cuộc sống như thế. Mình thích một cuộc sống không cần suy nghĩ là mình là người da trắng, hay da đen hay da vàng. Với một phần nữa là cuộc sống ở Mỹ rất khác cuộc sống ở Việt Nam, nhà ai nấy ở, xã hội rất khác so với khi Đỉnh còn nhỏ. Ở thành phố Hà Tiên mà Đỉnh ở khi nhỏ mọi người biết nhau cả, nhà nào cũng có thể chạy ra chạy vào. Còn qua Mỹ nhà nào cũng đóng kín. Những thành phố nhỏ ở Mỹ rất là buồn, sáng sớm họ đi làm hết, ra ngoài đường thấy như thành phố ma. Đỉnh thấy cuộc sống đó không hợp với mình. Nhưng lúc đó, từ khi tới Mỹ cho đến khi học xong, thì Đỉnh nghĩ mình không có cách nào khác, phải chịu đựng, phải chấp nhận, phải cố gắng. Rồi khi về thăm Việt Năm vào năm 1993 thì mình thấy cuộc sống ở đó hợp hơn với mình. Chỉ có điều, nói thật là lúc đó khi mình ở Mỹ thì mình thấy mình Việt nhiều hơn Mỹ, nhưng khi về đến Việt Nam thì lại thấy mình nhiều chất Mỹ hơn là Việt. Nhưng Đỉnh phần nào cũng đã có suy nghĩ là mình sẽ cố gắng, phải tìm cách nào đó để về sống tại Việt Nam. Rồi thì từ năm 1993 đến năm 1997 thì Đỉnh cũng cứ đi đi về về, ở 3 tháng Việt Nam rồi lại ở 3 tháng tại Mỹ. Rồi từ từ mình mới bắt đầu hòa nhập được. Đến năm 1997 thì mình quyết định ở hẳn lại Việt Nam, không về sống tại Mỹ nữa. Nhưng công việc tại Mỹ cũng nhiều, triển lãm chỗ này chỗ kia tại Mỹ, mấy nơi khác thì cũng đi hoài. Có thể là một phần may mắn là được quốc tế biết đến nên Đỉnh cũng có thể triển lãm ở bất cứ nơi nào. RFI : Như vậy là anh sống ở Việt Nam nhưng vẫn phát triển được sự nghiệp ở quốc tế. Anh đã có nhiều tác phẩm được trưng bày ở các triển lãm quốc tế và anh đã có nhiều triển lãm cá nhân ở nhiều không gian mỹ thuật danh tiếng tại các nước như Mỹ, Nhật, Úc, Pháp … Vậy ở trong nước thì sao ? Anh đã từng tổ chức triển lãm ngay tại Việt Nam hay chưa ? Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Hiện giờ, Đỉnh chưa triển lãm ở Việt Nam. Có thể nói Đỉnh không đồng ý với cách kiểm duyệt của Sở Văn Hóa ở Việt Nam. Mỗi lần triển lãm mình phải trình cho họ tác phẩm và họ tự chọn. Như người ta có nói, Đỉnh thấy là khi muốn kiếm cái xấu thì sẽ thấy cái xấu, còn nếu muốn tìm cái đẹp cái tốt thì sẽ thấy cái tốt cái đẹp ? Đỉnh thấy hình như sở Văn Hóa họ chỉ muốn kiếm cái xấu thôi, thành ra Đỉnh không thích cách họ kiểm duyệt. Vì thế Đỉnh chưa muốn triển lãm ở Việt Nam. Nhưng Đỉnh cũng rất mong muốn một ngày nào đó nếu cách họ kiểm duyệt thay đổi thì Đỉnh sẽ rất sẵn sàng làm triển lãm ở Việt Nam. RFI : Anh là chủ Sàn Art, một không gian nghệ thuật đương đại có tiếng tại TP.Hồ Chí Minh. Anh có thể giới thiệu cho thính giả, độc giải của RFI biết về không gian này ? Ý tưởng thành lập Sàn Art đến từ đâu ? Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Sàn Art là một không gian phi lợi nhuận mà Đỉnh và một vài người bạn đã dựng nên hồi năm 2007 và đến nay thì đã được mười mấy năm rồi. Đó không phải là không gian nghệ thuật đương lại lớn nhất Việt Nam, nhưng có thể là nó cũng có một ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến mỹ thuật đương đại Việt Nam và một nhóm trong giới họa sĩ ở Việt Nam.  Sàn Art là không gian mình dựng lên với vài người bạn để chia sẻ những gì mình biết về mỹ thuật đương đại cho nhiều họa sĩ trẻ và cũng tạo ra một không gian để các họa sĩ đương đại đến với nhau, tại vì hiện giờ thì,  nói sự thật ra là cả bảo tàng mỹ thuật Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng đón nhận mỹ thuật đương đại, thành ra những họa sĩ đang làm mỹ thuật đương đại họ cần một không gian để thử nghiệm, trưng bày những gì họ làm, những gì họ suy nghĩ. Thế nên một không gian như thế là rất cần thiết. Sàn Art và nhiều không gian khác ở Hà Nội và Sài Gòn góp sức với nhau để tạo nên một cái nền để hỗ trợ những họa sĩ mới ra trường, để họ có nơi để đến học hỏi thêm và hiểu biết thêm về mỹ thuật đương đại. Tôi mong muốn là sau này sẽ có một không gian lớn hơn để tiếp tục làm những gì Việt Nam cần. RFI : Nhân nói về mỹ thuật đương đại Việt Nam, anh có nhận xét gì về sự phát triển hiện nay trong nước ? Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh : Từ vài năm nay, mỹ thuật đương đại Việt Nam có sự thay đổi rất nhanh. Có một số người như Đỉnh trở về từ nước ngoài, ở lại Việt Nam, làm mỹ thuật đương đại rồi chia sẻ những gì mình biết về mỹ thuật đương đại. Có một số họa sĩ trẻ có điều kiện hoặc được học bổng đi học mỹ thuật đương đại ở nước ngoài, ở Mỹ hay châu Âu, rồi họ trở về Việt Nam lập nghiệp. Họ rất thành công, họ được nhiều bảo tàng hay chương trình trên thế giới mời đi triển lãm. Điều này là rất tốt. Đỉnh thấy rõ ràng là có sự thay đổi trong mỹ thuật Việt Nam, một bước đi tốt và vững chắc.   RFI xin chân thành cảm ơn nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh đã tham gia chương trình.
    6/15/2022
    15:23
  • Hà Nội muốn Mỹ tăng cường đầu tư vào các ngành công nghệ cao ở Việt Nam
    “Việt Nam sẵn sàng trở thành “cứ điểm” sản xuất quan trọng của thế giới”, theo khẳng định ngày 25/05/2022 của chính phủ trên trang thông tin Facebook. Tuy nhiên, từ một nước gia công cho thế giới, Việt Nam muốn thu hút những nguồn đầu tư mang tính công nghệ cao, phát triển thị trường tài chính sau khi gây dựng được uy tín trong các ngành sản xuất điện tử, công nghệ cao từ vài năm gần đây. Ngoài việc tham dự hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN tại Washington - mục đích chính của chuyến công du Mỹ (11-17/05/2022), thủ tướng Phạm Minh Chính đã gặp gỡ quan chức của nhiều tập đoàn lớn, định chế Hoa Kỳ để giới thiệu triển vọng đầu tư vào Việt Nam. Đặc biệt, ba lĩnh vực : tăng trưởng xanh, đổi mới công nghệ - chuyển đổi số và đa dạng chuỗi cung ứng, được thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh là tiềm năng cho hợp tác song phương khi phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Mỹ (CSIS) chiều 11/05. Kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1995, kim ngạch thương mại Việt - Mỹ đã tăng 248 lần sau 27 năm, theo trang VnExpress ngày 23/05. Trong những năm gần đây, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ vào Việt Nam đã tăng nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở những lĩnh vực dịch vụ. Hà Nội muốn các doanh nghiệp Mỹ đầu tư nhiều hơn vào các ngành công nghệ cao. Tiềm năng thúc đẩy hợp tác với Mỹ còn được tăng cường khi cả Washington và Hà Nội tham gia Khuôn Khổ Kinh Tế Ấn Độ-Thái Bình Dương (IPEF), được khởi động ngày 23/05 tại Tokyo. Trên đây là một số điểm chính được giáo sư Eric Mottet, Đại học Công giáo Lille, Pháp, nhận định khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 27/05. ******* RFI : Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ngày 12-13/05. Trang Facebook Thông tin Chính phủ và truyền thông Việt Nam cập nhật liên tục hoạt động của phái đoàn chính phủ Việt Nam, cũng như các cuộc gặp gỡ với các nhà ngoại giao, chủ các tập đoàn lớn của Mỹ. Theo ông, chiến dịch truyền thông này nhằm quảng bá ở trong nước ? Hay đây là mong muốn của chính phủ Việt Nam hướng đến hợp tác với Mỹ nhiều hơn về kinh tế và công nghệ ? G.S. Éric Mottet : Mọi hoạt động truyền thông của một chính phủ thường nhắm đến hai đối tượng trong và ngoài nước. Trường hợp này lại đặc biệt đúng đối với Việt Nam. Chúng ta thấy từ cuộc họp thượng đỉnh gần đây giữa Hoa Kỳ và ASEAN, chính phủ Việt Nam liên tục đưa tin, dĩ nhiên là về tăng cường hợp tác với Mỹ trong nhiều khuôn khổ. Việt Nam muốn chứng minh năng lực mới, được coi là một quốc gia quan trọng ở châu Á-Thái Bình Dương, là một nhân tố có trách nhiệm về mặt ngoại giao và địa-chính trị. Chiến lược truyền thông đó cũng để cho người dân Việt Nam thấy là hiện giờ, Hà Nội có khả năng đàm phán, trao đổi với cường quốc số 1 thế giới, trong khi đây là điều không thể trong lịch sử đau thương, khó khăn trước đây giữa Mỹ và Việt Nam. Về đối nội, chiến dịch truyền thông cũng cho phép nâng tính chính danh của đảng Cộng Sản Việt Nam, đặc biệt là các vấn đề quốc tế. Trong thời gian dài, đảng Cộng Sản Việt Nam bị coi là thiếu kinh nghiệm đối ngoại. Thế nhưng ở đây, người ta thấy là đảng và dĩ nhiên là chính phủ, bắt đầu có năng lực và cũng thấy rằng uy tín quốc tế của Việt Nam chưa bao giờ cao như vậy. Đối với Việt Nam, cũng như phần lớn các nước trong ASEAN, chiến lược đa dạng hóa đối tác không có gì là mới. Việt Nam muốn có quan hệ đối tác với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với các cường quốc. Nếu nhìn vào mối quan hệ đối tác giữa Hà Nội và Washington trong những năm gần đây, có thể thấy là mối quan hệ này được tăng cường mạnh mẽ về mặt thương mại. Năm 2021, thương mại song phương đã tăng gần 25%. Đúng là Hà Nội muốn đầu tư nước ngoài trực tiếp của Mỹ tăng tại Việt Nam và Hoa Kỳ đầu tư vào một số ngành công nghệ, đặc biệt là các ngành năng lượng, y tế, công nghệ số. Hà Nội trông đợi rất nhiều vào Hoa Kỳ trong tất cả những lĩnh này. RFI : Việt Nam không bỏ phiếu lên án cuộc xâm lược Ukraina của Nga, cũng như không loại Nga khỏi Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Sự bất đồng với lập trường của Mỹ có ảnh hưởng đến mối quan hệ song phương ? Éric Mottet : Chuyện đó có làm thay đổi mối quan hệ với Mỹ hay không ? Tôi nghĩ là không vì thực ra Việt Nam ở cùng thế với Ấn Độ. Quốc gia Nam Á này cố tỏ ra trung lập phần nào về cuộc khủng hoảng Ukraina khi không muốn liên kết với Nga hay Trung Quốc hoặc Hoa Kỳ. Ngoài ra, Hoa Kỳ cần ASEAN, cần Việt Nam để triển khai chính sách Ấn Độ-Thái Bình Dương. Như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam đã trở thành một yếu tố, một động cơ quan trọng trong ASEAN về mặt chính trị và kinh tế. Chúng ta thấy rõ là Hà Nội và Washington ngày cách xích lại gần nhau từ nhiều năm qua, từ thời tổng thống Trump và tiếp tục được củng cố với chính quyền Joe Biden. Xin nhắc lại là Mỹ chú ý đến Việt Nam về mặt kinh tế và dĩ nhiên là cả mặt chính trị trong tương lai. RFI : Thủ tướng Việt Nam nhiều lần nhắc đến “đối tác chiến lược toàn diện” trong bài tham luận tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế - CSIS trước khi tham dự hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN. Liệu có thay đổi nào sau chuyến thăm Hoa Kỳ của ông Phạm Minh Chính không ? Éric Mottet : Đúng là từ nhiều năm nay, người ta vẫn nói về mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Ở đây có thể có hai giả thuyết. Thứ nhất, như chúng ta biết, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga, và câu hỏi mà tôi thắc mắc trong thời gian gần đây là việc thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh đến quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ liệu có phải là để mọi người quên đi rằng Việt Nam đang có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga. Giả thuyết thứ hai là từ khoảng hai năm nay, Mỹ rất muốn Việt Nam gia nhập Bộ Tứ mở rộng (QUAD +), một diễn đàn về các vấn đề an ninh và quốc phòng. Trong bối cảnh này, có thể Việt Nam gửi một thông điệp đến Trung Quốc, kiểu : “Thấy đấy, chúng tôi cũng có khả năng ký một thỏa thuận đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ”. Đây được coi như một kiểu bảo đảm về an ninh và phòng thủ trước Trung Quốc. RFI : Việt Nam nằm trong số 7 nước ASEAN tham gia Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ-Thái Bình Dương (IPEF) của Mỹ. Khuôn khổ này có tầm quan trọng như thế nào đối với Việt Nam ? Việc Hà Nội tham gia có khiến Bắc Kinh tức giận không trong khi Trung Quốc không được mời ? Éric Mottet : Trước tiên phải nói rằng hiện chúng ta không biết gì nhiều về IPEF, cũng như nội dung của IPEF, vì vẫn đang trong quá trình đàm phán. Ngược lại có hai điểm mà chúng ta biết. Thứ nhất, IPEF sẽ không phải là một thỏa thuận tự do thương mại vì dù sao chính quyền Joe Biden sẽ không có được sự ủng hộ từ đa số đảng Dân Chủ nếu như chính quyền Mỹ ký một thỏa thuận tự do thương mại với các nước châu Á-Thái Bình Dương. Điểm thứ hai, IPEF sẽ bao gồm 4 đến 5 lĩnh vực chủ đạo, gồm kinh tế kỹ thuật số, chuỗi logistic, kinh tế xanh, minh bạch và chống tham nhũng. Nhìn chung IPEF có thể sẽ là một thỏa thuận ít vững chắc hơn rất nhiều so với Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Toàn Diện Khu Vực (RECEP) hay Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), hoặc so với Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Tuy nhiên, đây sẽ là một thỏa thuận có lợi cho Việt Nam bởi vì IPEF có cả Mỹ và Ấn Độ tham gia, trong khi hai nền kinh tế rất năng động này không tham gia vào RCEP hay CPTPP. Việc Việt Nam tham gia IPEF có khiến Trung Quốc tức giận không ? Chưa chắc ! Trung Quốc coi IPEF là một quan hệ đối tác vô cùng lỏng lẻo, ít tương lai vì sẽ không có bất kỳ ràng buộc pháp lý nào giữa các nước tham gia. Hơn nữa, đó cũng không phải là một thỏa thuận tự do thương mại theo đúng nghĩa nên Trung Quốc không mấy lo lắng về kế hoạch kinh tế của IPEF. Ngược lại, Bắc Kinh quan ngại về các vấn đề quốc phòng và an ninh nếu như IPEF có thể có thêm một mảng thiên về an ninh và quốc phòng. Nhưng hiện giờ khả năng này chưa xảy ra nên Bắc Kinh không lo lắng lắm. Xin nhắc lại là Việt Nam và Trung Quốc cũng có rất nhiều thỏa thuận đối tác kinh tế không ngừng được tăng cường trong 10 năm gần đây. Thậm chí, khối lượng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đã tăng gấp 10 lần trong nhiều năm qua. Tôi cho rằng Bắc Kinh quan sát bởi vì hiện giờ IPEF không đủ sức thuyết phục, có thể chỉ là một vỏ ốc và không dẫn đến kết quả lớn. Vì thế Trung Quốc không thấy vị thế kinh tế của họ bị đe dọa. RFI : Washington lần lượt thông báo Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương, sau đó là Khuôn khổ IPEF. Mỹ có thể trông cậy vào vai trò như thế nào của Việt Nam ? Éric Mottet : Phải nhắc lại là khó biết được nội dung của IPEF vì vẫn đang trong quá trình đàm phán. Điều mà Việt Nam mong muốn, đó là Hoa Kỳ, thông qua IPEF, đầu tư vào các đặc khu kinh tế, củng cố các chuỗi cung ứng, như Google, Microsoft hay Apple đã làm một chút trong những năm vừa qua, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại điện tử. Việt Nam cũng muốn Hoa Kỳ đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng xanh. Hà Nội cũng muốn các doanh nghiệp Mỹ, trong đó có nhiều công ty đi đầu trong lực này, chia sẻ các phương tiện và công nghệ của họ với Việt Nam. Chúng ta cũng thấy là Hoa Kỳ và tất cả các nước châu Á-Thái Bình Dương ngày càng tìm các giải pháp thay thế cho Trung Quốc nên Việt Nam có thể đóng vai trò tiếp nhận quan trọng nguồn đầu tư Mỹ vào châu Á-Thái Bình Dương trong khuôn khổ IPEF. Cuối cùng, việc này cũng có thể sẽ tăng cường thêm cho các khoản đầu tư của Mỹ vào Việt Nam trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, nếu nhìn vào đầu tư nước ngoài của Mỹ hiện giờ ở Việt Nam, có thể thấy chúng tập trung chủ yếu vào ngành khách sạn, nhà hàng, sản phẩm chế biến, nhưng vẫn còn vắng bóng trong lĩnh vực công nghệ cao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giáo sư Eric Mottet, trường Đại Học Công Giáo Lille tại Pháp.
    6/6/2022
    9:14
  • Nga, Ukraina đổ vũ khí vào chiến trường : Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào ?
    “Gần 1/4 số xe tăng Nga được triển khai tại Ukraina từ ngày 24/02/2022 hiện không còn hoạt động”. “Bộ binh cơ giới có lẽ đã mất khoảng 30% lực lượng” (1). Phía Kiev cho biết đã phá hủy gần 200 máy bay, gần 2.500 xe bọc thép của Nga. Matxcơva cũng liên tục thông báo oanh kích nhiều kho vũ khí và các đoàn viện trợ vũ khí của phương Tây cho Ukraina. Việt Nam, cũng như các nước nhập khẩu vũ khí của Nga và Ukraina, sẽ bị ảnh hưởng gián tiếp từ những “tổn thất kinh hoàng” này. Nga và Ukraina đang dồn lực lượng vào cuộc chiến chưa có dấu hiệu chấm dứt. Chiến trường khốc liệt ở miền đông Ukraina, đặc biệt là gần thành phố Severodonetsk trong những tuần qua, cho thấy phần nào những thiệt hại của quân đội Nga kể từ đầu cuộc tấn công. Nga huy động cả xe tăng đời mới nhất BMP-T Terminator, được coi là cỗ máy hủy diệt, với hy vọng thay đổi cục diện. Tuy nhiên, cả xe tăng đời cũ T-62 cũng được xuất kho trong bối cảnh hoạt động sản xuất vũ khí của Nga dường như đang chựng lại vì thiếu linh kiện công nghệ cao do bị phương Tây cấm vận. Cả Nga và Ukraina sẽ ưu tiên tái trang bị cho lực lượng quốc phòng khi chiến tranh kết thúc. Ngoài ra, các lệnh trừng phạt của phương Tây cũng sẽ ảnh hưởng đến ngành sản xuất vũ khí, cũng như hoạt động xuất khẩu của Nga. Vậy Việt Nam, cũng như các nước khách hàng của Nga và Ukraina, sẽ bị tác động như thế nào ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân Sự Pháp (IRSEM), ngày 25/05/2022. ******* RFI : Ngoài những tổn thất nặng nề về thiết bị quân sự trong cuộc chiến ở Ukraina, Nga thừa nhận gặp khó khăn, chậm trễ trong việc sản xuất vũ khí do thiếu linh kiện vì các lệnh trừng phạt của phương Tây. Liệu những nước nhập khẩu vũ khí của Nga, ví dụ Việt Nam, có phải lo về nguồn cung ứng này không ? Benoît de Tréglodé : Trước tiên cần nhắc đến việc các nước nhập khẩu vũ lớn của Nga, ví dụ Việt Nam là khách hàng quan trọng thứ 5 hoặc Ấn Độ là một trong những khách hàng lớn nhất của Nga, lại là những nước không thực sự tỏ ra lo ngại về vấn đề này. Những nước này đã thể hiện rõ lập trường trong các cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc, hoặc là họ vắng mặt, hoặc là họ chống các biện pháp trừng phạt, chống lại việc lên án cuộc can thiệp quân sự của Nga ở Ukraina. Việt Nam cũng làm tương tự. Vào tháng Tư, Việt Nam phản đối việc loại Nga khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Có thể thấy mối quan hệ trực tiếp giữa những khách hàng vũ khí lớn của Nga với những nước phản đối việc lên án cuộc chiến của Nga ở Ukraina. Về tác động của chiến tranh Ukraina đối với hoạt động xuất khẩu vũ khí Nga, có thể thấy rõ 3 yếu tố. Thứ nhất, các biện pháp trừng phạt của phương Tây và giấy phép nhập khẩu của các nước nhập khẩu vũ khí Nga có thể gây ra tác động về mặt hình ảnh cho chính những nước khách hàng này. Chắc chắn sẽ có tác động nhưng hiện giờ rất khó nói cụ thể. Thứ hai là tác động về lâu dài, bởi vì Nga phải nhập từ nước ngoài một phần linh kiện điện tử công nghệ cao được sử dụng trong ngành công nghiệp vũ khí, trong đó có Trung Quốc. Nhưng điều phức tạp hơn là nhiều linh kiện lại do các nước phương Tây cung cấp, trong khi chính những nước này đã ban hành các biện pháp trừng phạt Matxcơva. Tác động thứ ba đối với tương lai ngành xuất khẩu vũ khí Nga, theo tôi, đó chính là hình ảnh. Không ai có thể ngờ rằng lực lượng Nga lại kém hiệu quả trên thực địa khi chống lại sức kháng cự của Ukraina. Điều này cũng có thể cho thấy những hạn chế về danh tiếng của vũ khí Nga. Truyền thông phương Tây liên tục đưa hình ảnh những vỏ xe tăng T-90 và nhiều loại khác bị tan xác hoặc hư hỏng nặng. Thực tế này có thể tác động đến ngành công nghiệp vũ khí Nga trong tương lai. RFI : Ông có thể nhắc lại những loại vũ khí và thiết bị quân sự được Việt Nam nhập từ Nga ? Benoît de Tréglodé : Việt Nam là một khách hàng lớn của ngành công nghiệp vũ khí Nga từ cuối thập niên 1990. Ngược dòng lịch sử hai nước, có thể thấy Nga đồng hành với lịch sử đấu tranh của Việt Nam từ khi Liên Xô công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào tháng 01/1950. Sau đó, Liên Xô, rồi Nga, thường xuyên sát cánh với quân đội Việt Nam từ mặt quân sự, chính trị đến hợp tác quốc phòng và dĩ nhiên là cả vũ khí. Cuối thập niên 1990, khi Hà Nội quyết định hiện đại hóa hệ thống quốc phòng và thực hiện nhiều chương trình đầu tư lớn về vũ khí, dĩ nhiên Nga trở thành đối tác ưu tiên của Việt Nam. Theo thẩm định hiện nay, hơn 80% vũ khí nhập khẩu của Việt Nam là mua của Nga từ cuối những năm 1990 và trong tất cả các lĩnh vực. Những chương trình mang tính biểu tượng nhất và quan trọng nhất là 6 tầu ngầm lớp Kilo trang bị cho Hải Quân Việt Nam. Ngoài ra phải kể đến các hợp đồng 36 máy bay Sukhoi-30 cho không quân và hải quân Việt Nam, 4 chiến hạm lớp Guepard cho hải quân, nhiều tàu hộ tống lớp Tarantul, toàn bộ hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển và phòng không, nhiều xe tăng T-90, đạn dược và súng trường AK. Tóm lại, cả ba lực lượng quân đội Việt Nam chủ yếu được trang bị vũ khí của Nga từ khoảng 20 năm nay. Ngoài ra, cần phải nêu một chi tiết khá quan trọng khi nói đến sự phân bổ thị trường vũ khí đối với Hà Nội. Từ cuối những năm 1990, Việt Nam không tách biệt giữa các nhà công nghiệp vũ khí Nga và Ukraina, quốc gia cũng có truyền thống công nghiệp vũ khí, cho đến khi Matxcơva sáp nhập bán đảo Crimée năm 2014. Sự chia rẽ bắt đầu vào thời điểm đó, các nhà công nghiệp vũ khí Nga và Ukraina ngày càng trở nên đối đầu trong việc xuất khẩu, trong đó có thị trường Việt Nam. Trong giai đoạn đó, Việt Nam nhập khẩu hơn 200 triệu đô la vũ khí của Ukraina và bị thiếu phần nào từ nguồn cung này do tác động của cuộc khủng hoảng Nga-Ukraina. Tóm lại, không chỉ nguồn cung vũ khí của Nga, mà cả vũ khí của Ukraina hiện cũng có thể có vấn đề. RFI : Việc phương Tây ban hành hàng loạt biện pháp trừng phạt đối với Matxcơva sẽ tác động như thế nào đến hoạt động nhập khẩu vũ khí Nga của Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Chúng ta đã thấy hiện tượng này ở cấp vùng, một số khách hàng truyền thống của Nga như Thái Lan đã dần hướng sang các nhà sản xuất khác. Một trong những nước được lợi nhất trong quá trình phân bổ lại việc bán vũ khí ở Đông Nam Á có lẽ là các nhà sản xuất vũ khí Trung Quốc. Tôi xin nhắc lại là năm 2020-2021, Trung Quốc là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ tư trên thế giới, sau Mỹ, Nga, Pháp và Trung Quốc là nước bán nhiều vũ khí nhất trên thế giới. Năm 2020, Trung Quốc bán 53 triệu đô la vũ khí cho Đông Nam Á. Con số phần nào khiêm tốn này đã tăng vọt lên trong năm sau, lên thành 285 triệu đô la. Có thể là một một số khách hàng truyền thống của Matxcơva đã e ngại về các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với vũ khí Nga. Tuy nhiên, điều này chỉ ảnh hưởng một phần đến Việt Nam. Như nêu ở trên, Việt Nam có truyền thống lâu dài với quân đội Nga, vượt qua cả phạm vi vũ khí đơn thuần. Ngày 01/12/2021, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phan Văn Giang và đồng nhiệm Nga Serguei Shoigu đã ký ở Matxcơva một thỏa thuận mới để tăng cường hợp tác quân sự, tăng cường quan hệ đối tác về công nghệ và bán vũ khí giữa hai nước. Do đó, có thể thấy đây chưa phải là giai đoạn Việt Nam sắp “đổi súng”. Hợp tác vũ khí và quân sự Nga-Việt vẫn ở mức rất cao. Điều này được thể hiện trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Đây là mức quan hệ cấp cao nhất của Việt Nam và Hà Nội chỉ ký với ba nước, Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. Có một chi tiết nhỏ cần lưu ý, đó là vào thời điểm thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương được ký tháng 12/2021, phía Việt Nam đã giảm bớt đặt hàng với các nhà sản xuất Nga. Hợp đồng lớn gần đây nhất được ký năm 2019, Việt Nam mua 12 chiến đấu cơ huấn luyện Yakovlev của Nga. Sau đó, không có thêm hợp đồng lớn được ký giữa hai nước. Tuy nhiên, hai bên đang thảo luận về việc mua chiến đấu cơ cho không quân. Vấn đề này rõ ràng là một thách thức chiến lược lớn cho Việt Nam hiện nay. RFI : Trước tất cả những bất cập được nêu ở trên, Việt Nam có thể tìm giải pháp thay thế nguồn cung cấp thiết bị quân sự Nga như thế nào ? Benoît de Tréglodé : Trước tiên, như tôi đã nêu ở trên, ngoài nguồn thay thế vũ khí Nga, Hà Nội cũng phải tìm nguồn thay thế cho vũ khí Ukraina mà Việt Nam cũng là một khách hàng lớn từ khoảng 20 năm nay. Từ vài năm nay, nhìn chung là từ khủng hoảng bán đảo Crimée năm 2014, Việt Nam phải tính đến việc đa dạng hóa nguồn cung cấp vũ khí. Trong bộ Quốc Phòng Việt Nam, trong bộ máy Nhà nước và bộ máy an ninh đã có những cuộc thảo luận về việc cần phải có những nhà cung cấp vũ khí nước ngoài khác vì hai lý do. Thứ nhất dĩ nhiên liên quan đến thiệt hại của Ukraina, tiếp theo là những lý do địa-chính trị liên quan đến việc Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau. Hà Nội đang trao đổi rất nhiều với các nước Israel, Belarus, Hà Lan, đề cập một chút với một số nước Liên Hiệp Châu Âu khác, trong đó có Pháp, và với Hoa Kỳ. Nhưng việc hướng sang các nhà cung cấp mới này cũng đặt ra nhiều vấn đề địa-chính trị đáng kể. Ngoài ra, việc Matxcơva và Bắc Kinh thắt chặt hợp tác an ninh cũng đặt ra hai vấn đề đối với Hà Nội. Điểm thứ nhất, chưa bao giờ Việt Nam nhận được sự ủng hộ rõ ràng của Nga về vấn đề Biển Đông. Các nhà hoạch định chiến lược Việt Nam biết rằng trong trường hợp xảy ra xung đột ở Biển Đông với Trung Quốc, Nga sẽ không giúp Việt Nam. Họ cũng sợ bị phụ thuộc về mặt công nghệ vào trang thiết bị giống với thiết bị cũng được quân đội Trung Quốc sử dụng. Điểm thứ hai, Hà Nội bức xúc việc Matxcơva thiếu ủng hộ vào năm 2016 khi Tòa án Trọng tài Thường Trực La Haye ra phán quyết vô hiệu hóa các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là hai điểm khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam không muốn “đặt hết trứng vào một giỏ” đối với Nga, nhất là đối với các loại vũ khí công nghệ cao liên quan trực tiếp đến chiến tranh mạng, thiết bị dành cho an ninh mạng hoặc liên quan đến những chương trình vô cùng tinh vi về mặt công nghệ, như thiết bị bay không người lái vũ trang mà Việt Nam muốn có và phần nào nhờ vào tập đoàn Viettel. Hà Nội đang xét lại định hướng quan hệ chiến lược nhưng không có chuyện xem xét lại hoàn toàn mối quan hệ quốc phòng mạnh mẽ về mặt lịch sử và được ủng hộ về mặt chính trị. Tổng thống Vladimir Putin rất nổi tiếng ở Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong đó một phần lớn đã sống ở Liên Xô hoặc ở Nga, có mối quan hệ hữu nghị và vững chắc với Nga. Cuối cùng, về mặt ý thức hệ, chính quyền Việt Nam vẫn ủng hộ người Nga, vì thế Việt Nam chưa sẵn sàng đổi hướng. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM). ******* (1) Theo thống kê của trang Oryx, chuyên theo dõi thiệt hại của quân đội Nga ở Ukraina, được trang Public Sénat trích ngày 23/05/2022.
    5/30/2022
    10:23
  • François Bibonne và nhịp cầu âm nhạc Pháp-Việt
    Có lẽ không có bộ phim tài liệu nào về Việt Nam mà chỉ trong một thời gian ngắn được quốc tế biết nhiều đến như Once upon a bridge in Vietnam ( Ngày xưa có một nhịp cầu ở Việt Nam ) của François Bibonne. Chính là qua bộ phim này mà khán giả nước ngoài và trong nước khám phá thế giới nhạc cổ điển tại Việt Nam và âm nhạc Việt Nam nói chung. Tác phẩm của đạo diễn trẻ mang hai dòng máu Pháp Việt đã đoạt giải Phim tài liệu ngắn hay nhất tại Liên hoan phim Los Angeles LAFA 2022 và Liên hoan phim quốc tế New York NYFA 2022. Phim còn được đề cử tranh giải Phim tài liệu ngắn hay nhất tại Liên hoan phim độc lập Roma Prisma Awards tháng 12/2021, cũng như có tên trong danh sách chính thức tranh giải Liên hoan phim quốc tế Boden ở Thụy Điển, giải Liên hoan phim Hollywood BLVD 2002, và trong danh sách Short to the Point tháng 01/2022. Once upon a bridge in Vietnam còn đã được trình chiếu tại studio Le Regard du Cygne ở Paris, tại trường Hunter College ở New York và sắp tới đây sẽ được trình chiếu ở Việt Nam trong khuôn khổ Liên hoan Mad Visions Film Fest tại Sài Gòn ( 10-11/06/2022 ). Trả lời phỏng vấn ban Việt ngữ tại phòng thu của RFI ngày 11/05/2022, François Bibonne cho biết về hình tượng cây cầu trong Once upon a bridge in Vietnam:  “ Đó là một ẩn dụ có nhiều nghĩa. Ban đầu đó là hình ảnh cây cầu Long Biên, một cây cầu do Pháp xây dựng và là biểu tượng cho mối quan hệ thân hữu giữa Pháp và Việt Nam. Nhưng ngoài ý nghĩa này, đó còn là cầu theo nghĩa nhạc cụ, tiếng Anh là Bridge, tức là ngựa đàn, phần đỡ những sợi dây của những nhạc cụ như violon, violoncelle. Cầu cũng có thể được hiểu theo nghĩa âm nhạc, tức là phần chuyển tiếp hay còn gọi là đoạn cầu giữa phân khúc và điệp phúc.  Ta cũng có thể hiểu đó là nhịp cầu nối giữa nhạc truyền thống Việt Nam với nhạc cổ điển phương Tây, giữa hai nền văn hóa Pháp Việt”.  Chính là vì tò mò muốn tìm hiểu về sinh hoạt của giới âm nhạc  cổ điển phương Tây ở Việt Nam, François Bibonne đã đến với quê hương của người bà Việt Nam mà anh rất thương nhớ:  “Tôi rất say mê nhạc cổ điển. Hồi nhỏ tôi chơi piano rất nhiều và tôi đã từng muốn theo nghề nghệ sĩ piano, nhưng cuối cùng tôi là thích ngành thính thị, tôi cũng có bằng thạc sĩ Lịch sử. Tuy vậy, tôi vẫn muốn làm việc trong môi trường âm nhạc cổ điển và tôi đã bắt đầu làm các phỏng vấn cho một tổ chức nghệ thuật chuyên giảng dạy nhạc cổ điển. Tôi rất quan tâm đến chân dung của các nghệ sĩ, đến cuộc sống của họ. Rồi trong thời gian thực tập cho một công ty sản xuất nhạc cổ điển, quản lý các nghệ sĩ tại những nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, tôi tò mò muốn tìm hiểu về nhạc cổ điển ở Việt Nam, không biết ở Việt Nam có dàn nhạc cổ điển không, nhạc cổ điển có một vị trí như thế nào ở nước này. Tôi bèn dùng công cụ Google để tìm thông tin, nhưng chẳng thấy có gì về nhạc cổ điển ở Việt Nam  Rồi vào lúc đó, bà tôi qua đời và lần đầu tiên tôi về Việt Nam với một dự án phim tài liệu. Tôi rất vui vì ở Việt Nam tôi được mọi người đón tiếp niềm nở, nhất là Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Tôi đã được phép theo họ để quay phim trong tất cả các buổi tập dợt, các buổi hòa nhạc và dần dần tôi trở thành giống như là nhà báo của dàn nhạc! Tôi cũng tiếp xúc nhiều với nhạc trưởng là người Nhật và qua đó biết được nhiều điều về lịch sử nhạc cổ điển ở Việt Nam và gặp được những nhân vật chủ chốt của sân khấu âm nhạc cổ điển Việt Nam. Từ đó, tôi ra khỏi khuôn khổ của dàn nhạc giao hưởng, ra khỏi Hà Nội về các miền quê để đưa khán giả đến với nhạc dân tộc, với văn hóa Việt Nam." Once upon a bridge in Vietnam chính là dự án đầu tiên của studio Thi Koan mà François Bibonne lập ra và đặt theo tên của bà nội Nguyễn Thị Koan. Nhà đạo diễn trẻ đã ở Việt Nam trong suốt 15 tháng giữa đại dịch Covid-19, đến dự những buổi hòa nhạc, biểu diễn âm nhạc truyền thống, những buổi tập luyện của các nghệ sĩ, hay đến thăm làng làm kèn đồng ở Nam Định, làng vĩ cầm ở Bắc Giang, tìm hiểu về việc duy trì dân ca quan họ ở Bắc Ninh, về ca trù tại Hà Nội… Điều đáng nói ở đây là François Bibonne hầu như chỉ một mình dấn thân vào dự án này, thế mà bộ phim tài liệu của anh đã dần dần chinh phục được khán giả ở Pháp, ở Mỹ: “Tôi chỉ có một mình để làm công việc quảng bá, tiếp thị cho bộ phim. Nhưng như thế cũng hay, bởi vì nhờ vậy mà tôi đã có dịp gặp các phóng viên, gặp những người làm trong ngành thính thị và cũng nhờ vậy mà học được nhiều điều. Nhưng tôi đã làm theo cách cổ điển sau khi hoàn tất bộ phim tài liệu, đó là gởi phim đến dự các liên hoan điện ảnh và tôi đã nhận được một số giải tại các liên hoan ở Mỹ, ở Ý. Tôi cũng đã tổ chức sự kiện đầu tiên ở Paris để trình chiếu bộ phim, với sự tham gia của các nghệ sĩ, nhạc sĩ Việt Nam để có dịp quảng bá cho họ, vì mục đích bộ phim của tôi cũng chính là nêu bật vai trò của họ. Phim của tôi cũng đã được chiếu tại trường Hunter College ở New York, một đại học rất lớn, nhờ vào sự trợ giúp của một nghệ sĩ piano người Việt, sau này trở thành bạn của tôi. Qua buổi trình chiếu này mà dự án của tôi được cộng đồng người Việt ở Mỹ biết đến. Tôi cũng đã có dịp gặp các giáo sư người Việt ở đại học Colombia, họ có đề nghị là trong tương lai có thể chiếu bộ phim của tôi trong trường của họ và qua đó nói về tiếng Việt, bởi vì phim của tôi cũng nói về tiếng Việt, một ngôn ngữ rất nhiều âm điệu. Các đại học, các viện cũng đang tìm các công cụ để thu hút giới trẻ học tiếng Việt. Tôi cũng đang tìm các nhà phát hành phim và cũng vì tôi đã không học làm phim tài liệu một cách có bài bản, nên bây giờ tôi cũng đang cố tạo lập mạng lưới riêng cho mình.” Dĩ nhiên là đối với những người làm phim độc lập, chưa có tên tuổi trong làng điện ảnh như François Bibonne, tìm được nguồn tài chính để thực hiện bộ phim Once upon a bridge in Vietnam không phải là đơn giản. Nhưng rất may là anh đã có thể huy động được vốn từ cộng đồng dưới hình thức gọi là crowdfunding: “Tôi có được nguồn tài trợ cho bộ phim huy động vốn trên mạng Indiegogo, nơi mà cộng đồng có thể đóng góp tiền cho các dự án. Mục tiêu mà tôi đề ra ban đầu là 12.000 euro và tôi đã đạt được mục tiêu này và thậm chí cuối cùng đã nhận được nhiều hơn, hình như là hơn 300 euro. Ban đầu, đó là tiền đóng góp của gia đình, bạn bè, sau đó là đóng góp của các hội đoàn ở Paris, rồi có sự hỗ trợ của các nhạc sĩ ở Việt Nam, và chính họ cũng đi vận động cho tôi. Nếu tổng kết lại các nguồn đóng góp, chúng ta có một tam giác với ba góc là Pháp, Việt Nam và Mỹ. Và thành phần khán giả chủ yếu của tôi cũng chính là ở ba quốc gia đó. Tôi đã bắt đầu quay tiếp, có thể gọi đó là tập hai của bộ phim, về chân dung của các nhạc sĩ người Việt ở nước ngoài, nói về nỗi nhớ quê hương của họ. Tôi không biết có sẽ lại huy động vốn từ cộng đồng hay không. Tôi rất muốn có sự hỗ trợ của nền tảng như Netflix, của các kênh truyền hình sản xuất phim trên mạng, như đài Pháp-Đức Arte, để có được các thiết bị ghi hình, thu âm tốt hơn. Nếu không tìm được nhà phân phối, nhà bảo trợ, thì tôi sẽ lại tìm nguồn tài trợ qua hệ thống crowdfunding, nhất là vì đã có những phản hồi rất tích cực từ những nhà tài trợ của cộng đồng sau khi họ xem phim của tôi. Tại Pháp, tôi đang liên hệ với các rạp chiếu phim để tìm các đối tác, tiếp tục quảng bá cho bộ phim nhân các sự kiện, có thể là kết hợp với các nhạc sĩ người Việt. Còn tại Việt Nam, phim cũng sẽ được trình chiếu ở Sài Gòn, trong khuôn khổ Liên hoan Mad Visions Film Fest (10-11/06/2022). Tôi cũng cố gắng có được các đối tác như Viện Pháp ở Việt Nam hay sứ quán Pháp ở Việt Nam. Hiện giờ chưa có sự hỗ trợ của họ, nhưng tôi nghĩ là họ sẽ quan tâm đến dự án của tôi.” Francois Biconne cho biết Việt Nam đã hỗ trợ anh rất nhiều, ngoài các nhạc sĩ, còn có cả một hệ thống báo chí, truyền hình quảng bá cho dự án của anh. Đối với đạo diễn trẻ mang hai dòng máu Pháp Việt, đó là một sự yểm trợ về tinh thần khích lệ anh rất nhiều và càng làm cho anh thấy nhạc cổ điển ở Việt Nam là một chủ đề thu hút khán giả, nhất là qua cái nhìn của một người Pháp.
    5/23/2022
    9:20

Über TẠP CHÍ VIỆT NAM

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ VIỆT NAM, Hitradio Ö3 und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.at-App

TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Zugehörige Sender