Radio Logo
RND
Höre {param} in der App.
Höre TẠP CHÍ VIỆT NAM in der App.
(7.565)(6.472)
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
StartseitePodcastsNachrichten
TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM
Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

hinzufügen

Verfügbare Folgen

5 von 24
  • Tạp chí Việt Nam - Nội địa, sinh thái, cộng đồng: Du lịch Việt Nam tìm hướng thích nghi với Covid
    Du lịch từng là ngành kinh tế hàng đầu của Việt Nam, với khoảng 18 triệu lượt khách quốc tế năm 2019, đã suy sụp toàn diện trong nửa cuối 2021, sau cuộc khủng hoảng dịch lớn chưa từng có hồi mùa hè. Bất chấp việc chính phủ tuyên bố chấm dứt các biện pháp giãn cách, phong tỏa nghiêm ngặt trên toàn quốc từ giữa tháng 10, thời điểm trở lại đời sống bình thường còn xa. Con đường nào sẽ giúp du lịch phục hồi trong giai đoạn chuyển tiếp, mà hứa hẹn sẽ kéo dài? Dịch Covid-19 đã giáng một đòn nặng vào nền kinh tế Việt Nam. Ngành dịch vụ du lịch - lữ hành, chiếm khoảng 10% GDP của Việt Nam, là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Ông chủ Vietravel - công ty du lịch hàng đầu Việt Nam, với hãng hàng không chuyên về lữ hành đầu tiên ở Việt Nam vừa khai trương cuối năm 2020 - thừa nhận là đại dịch đã kéo công ty trở về thời kỳ khoảng 15 năm về trước. Một công ty 1.700 nhân viên mà có những thời điểm đến sở làm chỉ còn 15 - 20 người. Tình hình tại Vietravel cũng là không khí chung của ngành du lịch, khi hầu hết điểm tham quan nổi tiếng phải đóng cửa, đa số các thành phố lớn bị lockdown. An toàn cho khách, an toàn cho dân tại chỗ Đảo Bé, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, với những bãi biển trong xanh, hoang sơ, những bãi đá nham thạch trầm tích núi lửa đìu hiu vì vắng khách. Đảo Bé cũng là nơi mà nhiều người ví như một « bảo tàng sống » về lịch sử quần đảo Hoàng Sa từ nhiều năm qua từng thu hút khách với mô hình du lịch phục vụ khách tại nhà (homestay), thân tình, chu đáo, khiến du khách một đi ắt sẽ muốn trở lại. Viễn cảnh trở lại với ngày ấy còn xa vời. Ông Nguyễn Minh Trí, giám đốc sở Văn Hóa - Thể Thao - Du Lịch tỉnh Quảng Ngãi, chia sẻ : « Bây giờ ở đâu cũng vậy thôi. Muốn hay không muốn cũng phải kiểm soát được dịch đã. Chừng nào mà người ta cảm nhận được độ an toàn, người ta sẽ đi thôi. Còn những phương án mình đưa ra, ví dụ như anh tiêm đủ 2 mũi vac-xin, rồi trước khi đi xét nghiệm âm tính… thì cũng có thể, nhưng những cái đó mình đưa ra thì cũng là những điều kiện để mở cửa du lịch, nhưng thực ra hiệu quả cũng nhưng cái đó nó cũng chưa hẳn. Hiện nay ở Việt Nam cũng vẫn phải là kiểm soát được dịch. Còn ưu tiên chính vẫn là dành cho vấn đề sản xuất. Còn việc đi du lịch, thì tự nó đến giai đoạn mà mình hiểu là nếu người ta cảm giác an toàn rồi, thì nó sẽ quay trở lại thôi ». An toàn cho du khách, an toàn cho người dân tại chỗ là điều kiện tiên quyết để mở cửa du lịch trở lại. Ông Huỳnh Tấn Vinh, chủ tịch danh dự Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng, công ty Cổ phần Khu du lịch Bắc Mỹ An - The Furama Resort Da Nang, chia sẻ : « Ở Đà Nẵng, lượng tiêm vac-xin sẽ hướng đến 70 đến 80%, miễn dịch cộng đồng sẽ được cải thiện hơn, thì khi đó mới bắt đầu nghĩ đến chuyện đón du khách. Hiện nay lộ trình của Đà Nẵng là thứ nhất đón du khách của thành phố Đà Nẵng, những người dân nào đã tiêm vac-xin rồi, thì họ có thể trải nghiệm du lịch ngay trong thành phố mình. Và nếu cuộc thử nghiệm này ổn, từng bước mở rộng đón du khách nội địa của Việt Nam. Và nếu quá trình này ổn, thì nghĩ đến chuyện đón du khách quốc tế. Mà cho dù du khách nào, điều kiện tiên quyết là người đó phải được tiêm vac-xin đầy đủ. Tôi nghĩ rằng, nếu lộ trình như vậy, thì triển vọng đến giữa năm 2022 có thể mở cửa đón khách nội địa. Và đến giữa cuối năm 2022 có thể đón khách quốc tế được ». Trước hết là « nội địa » Trong lúc khả năng mở cửa đón du khách quốc tế còn đang được chính quyền dè dặt xem xét, du lịch nội địa được nhìn nhận như là nguồn lực quan trọng đầu tiên trong giai đoạn tìm cách thích ứng với dịch bệnh, mà theo nhiều chuyên gia y tế, dự kiến sẽ có kéo dài đến ít nhất vào cuối năm tới. Ông Ken Atkinson, phó chủ tịch Hội đồng tư vấn du lịch Việt Nam nhận định : « … tôi nghĩ, vấn đề quan trọng nhất là đã có những người tập trung vào du lịch trong nước, bởi vì đó là những gì trong tầm tay. Tôi nghĩ du lịch nội địa, trong quá khứ vốn rất ít được quan tâm, hoặc mọi người chưa quan tâm đúng mức đến du lịch nội địa. Chúng ta cần nhớ rằng trước Covid, đã có gần 85 triệu khách du lịch trong nước so với 18 triệu khách du lịch nước ngoài, mặc dù doanh thu từ khách du lịch nội địa chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu. Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam hiện đang phát triển rất nhanh, hoặc đã phát triển rất nhanh và thu nhập của họ cũng tăng rất nhanh, vào giai đoạn trước đại dịch Covid. Khu vực trong nước đáng được quan tâm hơn nhiều, so với những gì mà lĩnh vực đang nhận được. Tôi nghĩ đây là một lợi thế ». Để khơi thông, cần một « cơ chế liên ngành » Để phục hồi ngành du lịch, cần phải có một nỗ lực rất lớn từ phía chính phủ. Ông Ken Atkinson đề nghị một cơ chế liên ngành đặc biệt của chính phủ để hướng dẫn việc mở cửa trở lại ngành du lịch. Bên cạnh du lịch nội địa, phó chủ tịch Hội đồng tư vấn du lịch Việt Nam hy vọng chính quyền sớm thí điểm ít nhất là trước cuối năm nay, việc đón du khách quốc tế : « … tôi là một thành viên của ban cố vấn du lịch Hiệp hội Vietnam Tourism Advisory Board. Một trong những việc đang làm của chúng tôi là thúc đẩy chính phủ Việt Nam thành lập một cơ chế liên ngành đặc biệt để giúp hướng dẫn việc mở cửa trở lại của ngành. Cơ chế liên ngành đặc biệt đó cần bao gồm tất cả các bên có liên quan, bao gồm một số bộ, như bộ Văn Hóa và Du Lịch, bộ Giao Thông Vận Tải, bộ Ngoại Giao, bộ Công An, cũng như các bên liên quan trong số các đối tác Việt Nam và các đối tác nước ngoài lớn trong ngành du lịch. Điều quan trọng là cơ chế liên ngành đặc biệt này phải có được đủ thẩm quyền phát triển các quy định và thể thức, để chúng ta có thể mở lại một cách an toàn, mở lại theo kinh nghiệm trong nước, cũng như theo kinh nghiệm ở các quốc gia khác đã mở lại biên giới, bao gồm một số quốc gia châu Âu, cũng như Thái Lan, Singapore. Vì vậy, chúng ta có thể học hỏi trong khi làm, để tránh rơi vào bất kỳ cạm bẫy lớn nào mà các quốc gia khác có thể đã trải qua. Chúng ta cũng cần phải có kế hoạch tiếp thị sớm, bởi vì tất cả các quốc gia cạnh tranh với chúng ta đều đang tranh giành khách du lịch nước ngoài, cho dù là khách du lịch đường dài hay khách khu vực. Họ đã bắt đầu tiến hành các chiến dịch lớn, như bây giờ chúng ta thấy trên truyền hình về du lịch Thái Lan. Đó là đối thủ cạnh tranh lớn của chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị và chúng ta cần phải chi tiền cho việc xúc tiến và quảng cáo, để thúc đẩy một thực tế là Việt Nam sẽ mở cửa kinh doanh trở lại ngay khi cơ hội đến. Nhưng bạn không thể để đến lúc đó rồi mới thực sự chuẩn bị. Chúng ta cần bắt đầu chuẩn bị ngay từ bây giờ. Chúng ta cần chuẩn bị sẵn phương tiện, chúng ta cần được phân bổ ngân sách và tôi nghĩ đó là nơi chính phủ thực sự có thể thúc đẩy và giúp đỡ ngành ». Thách thức hàng đầu: Duy trì nhân lực Giảm thuế, gia hạn nộp thuế, miễn thuế, miễn giảm tiền thuê đất, giảm lãi suất vay ngân hàng… là hàng loạt các biện pháp mà giới kinh doanh du lịch nói riêng và đông đảo kinh tế gia đòi hỏi khẩn thiết từ Nhà nước. Trong một đóng góp cho « Chương trình phục hồi, phát triển gắn với nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế giai đoạn 2022-2023 », tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nhấn mạnh đến việc Nhà nước cần ra quyết định đầu tư mạnh, « cần mạnh chi, nếu không chi là có tội. Không thể chi tiêu bủn xỉn như thời gian vừa rồi trong đại họa như thế này… Giải pháp phải mạnh và ngay lập tức, cách thức ứng xử phải phi truyền thống chứ nếu cứ áp dụng hành chính tuần tự như vừa rồi thì rất khó với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng » (Bài « Gói giải cứu nào cho nền kinh tế? », Vietnamnet, ngày 07/10/2021). Bên cạnh đòi hỏi Nhà nước hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nói trên, câu chuyện nhân lực của ngành là mối lo hàng đầu và thường trực với các nhà hoạt động du lịch. Theo ông Ken Atkinson, phó chủ tịch Hội đồng tư vấn du lịch Việt Nam : « Bất lợi lớn là đã có rất nhiều lao động phải rời khỏi ngành này. Họ đã bị sa thải, mất việc hoàn toàn, hoặc ngừng làm việc trong một thời gian ngắn, và họ đã đi làm bên ngoài lĩnh vực du lịch.... cảm giác chung đặc biệt trong giới các nhà kinh doanh khách sạn và công ty lữ hành là sẽ rất khó khăn để đưa những người đó trở lại với nghề. Vì vậy, bạn biết đấy, một mặt chúng ta sẽ mở cửa ngay bây giờ, mặt khác rất nhiều doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn lớn để có được đội ngũ nhân viên có trình độ ». Thiên nhiên - Nông nghiệp sinh thái - Văn hóa cộng đồng…   Chúng tôi liên lạc được với ông Nguyễn Trí Nghiệp, ông chủ Nông trang Island, vườn cây giống chất lượng cao nổi tiếng nằm ven sông Tiền Giang, thuộc vùng đất cù lao tỉnh Vĩnh Long. Vốn là một cơ sở kinh tế trang trại khởi nguồn từ năm 1985, kế thừa từ người cha, lão nông Tám Hổ, một nghệ nhân đờn ca tài tử, cách nay mươi năm, ông Nguyễn Trí Nghiệp đã bắt đầu phát triển mô hình du lịch sinh thái kết hợp trang trại ươm cây giống. Người được mệnh danh là « Vua » cây giống miền Tây từ hơn 30 năm nay miệt mài say mê với công việc sưu tầm và phát triển các giống quý, đặc biệt là cây ăn trái như chanh thơm, chanh Limca, dừa thơm Island, xoài xanh Đài Loan, mít nghệ (M99-I), ổi xá lị không hạt, sầu riêng CVHL Ri6… Cây giống từ vườn ươm Nông trang Island tỏa ra khắp cả nước, cũng như đến với nhiều thị trường quốc tế, như Lào, Cam Bốt, Trung Quốc, Miến Điện. Cơ sở du lịch nông nghiệp - sinh thái của ông Nguyễn Trí Nghiệp chủ yếu đón khách nước ngoài. Trong bối cảnh đại dịch, triển vọng khách quốc tế trở lại còn xa, ông Nghiệp cũng đang tính đến việc chuyển sang thu hút du khách nội địa. Quan tâm đặc biệt của ông là duy trì được toàn bộ đội ngũ 10 nhân viên của công ty qua suốt mùa đại dịch. Trước khi kết thúc cuộc trao đổi qua điện thoại, ông chia sẻ với chúng tôi cảm giác « xốn xang trong lòng » khi chứng kiến những đoàn người từ thành phố Hồ Chí Minh lũ lượt đổ về miền Tây qua ngả Vĩnh Long, trời mưa cũng như trời nắng. Ông chia sẻ nỗi đau, nước mắt của những người buộc phải ra đi, với nỗi lo chung về viễn cảnh thất nghiệp, công nghiệp thiếu nhân công trầm trọng sau cuộc di tản khổng lồ. Tuy nhiên, ông chủ Nông trang Island cũng tin tưởng nông nghiệp sẽ tiếp tục phát triển mạnh sau đại dịch. … nền tảng cho du lịch bền vững « Cả một thung lũng bất tận xôn xao lúa, được bao bọc bởi những ngọn đèo hùng vĩ, được tưới tắm bởi nhiều con thác lớn. Thung lũng Khau Phạ có thể nói đẹp ít nơi nào sánh bằng », trên đây là lời giới thiệu về Khau Phạ của Hiệp hội. Khau Phạ Friends (KPF) - Những người bạn của Khau Phạ, « một tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ cộng đồng dân tộc thiểu số phát triển bền vững thông qua các hoạt động du lịch », mới ra đời năm 2018. Thung lũng Khau Phạ với con đèo Khau Phạ cùng tên, một trong « tứ đại đỉnh đèo » huyền thoại của vùng Tây Bắc (thung lũng Khau Phạ thuộc huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái), nơi cư trú lâu đời của các cộng đồng người Thái, người H’Mông. Doanh nghiệp xã hội « Những người bạn của Khau Phạ » có mục tiêu hỗ trợ cộng đồng người Thái tại bản Ít phát triển mô hình « du lịch cộng đồng ». Chị Thảo Nguyên, đại diện của Khau Phạ Friends, cho biết về ý nghĩa của mô hình du lịch cộng đồng và hoạt động của bà con bản Ít trong thời gian du lịch bị đình chỉ do đại dịch : « Chúng tôi là một mô hình du lịch không cần nhiều đầu tư. Chúng tôi chỉ là những người đồng hành và hỗ trợ bà con xây dựng những cơ sở lưu trú, những homestay dựa trên chính những gian nhà sàn của họ. Và nghề chính của họ vẫn là làm nông. Họ vẫn canh tác, vẫn làm những hoạt động, như trồng lúa, trồng ngô, sắn trên nương, và chăn nuôi các gia súc như trâu, bò, lợn gà. Cái nghề du lịch là một nghề tay trái với người dân bản địa ở đây. Trong suốt quá trình dịch bệnh diễn ra, bà con không thể đón được khách, thì bà con quay trở lại với công việc chính của họ là làm nông. Thay vì đón khách, thì chúng tôi hỗ trợ họ những sản phẩm khác, mang tính văn hóa, tức là những nông sản đặc sản như là sản phẩm cốm, như là ‘‘khẩu hang’’ - một loại lúa nếp non, người ta có thể chế biến thành xôi… Những hoạt động canh tác bản địa có những câu chuyện riêng, có điểm nhấn riêng cho sản phẩm nông sản ấy, chúng tôi có thể giúp bà con xây dựng thương hiệu nông sản sạch và tiêu thụ nông sản ấy, để ngay cả khi bà con không thể đón khách thì bà con vẫn có thêm một sinh kế mới, từ việc canh tác nông nghiệp ngay tại địa phương của mình ». Giờ đây, trong khi chờ đợi khách quốc tế trở lại, hiệp hội Những người bạn của Khau Phạ hướng dẫn người dân trong bản chuyển hướng sẵn sàng mở cửa đón khách trong nước, một khi việc đi lại trong nội địa thông suốt. *** Khủng hoảng đại dịch Covid vừa là một khủng hoảng do dịch bệnh, do biến chủng Delta có mức độ lây lan mạnh mẽ, nhưng cũng vừa là một cuộc khủng hoảng do nhiều chính sách « cực đoan » với dịch bệnh từ phía chính quyền tại nhiều nơi, đã để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với cư dân, đặc biệt một số địa phương miền nam như thành phố Hồ Chí Minh. Phục hồi kinh tế nói chung, cũng như du lịch nói riêng sẽ không thể một sớm một chiều. Quá trình phục hồi du lịch phụ thuộc nhiều vào khả năng của chính quyền, trước hết là ngành y tế đưa ra được những chính sách phòng chống dịch minh bạch, bài bản, dựa trên những cơ sở khoa học thực sự. Theo nhiều nhà quan sát, những biện pháp thất thường của chính quyền các cấp như phong tỏa đột ngột, thủ tục nhiêu khê, ngăn sông cấm chợ, cách ly khắc nghiệt, xét nghiệm rộng khắp… như trong thời gian qua, nếu tiếp tục để tái diễn, cho dù ở mức độ nhỏ hơn nhiều, cũng sẽ gây ra các tổn hại khôn lường, một khi các hoạt động du lịch bắt đầu quá trình hồi phục khó khăn. An toàn, Sinh thái, Hòa bình Tuy nhiên, khủng hoảng Covid không chỉ là một khủng hoảng về dịch tễ. Đây còn là một cuộc khủng hoảng về mối quan hệ của con người với môi trường - sinh thái, trong đó có khủng hoảng của lối sống du lịch tiêu thụ… Nguyên nhân trực tiếp của virus gây bệnh Covid-19, xuất hiện cụ thể như thế nào, là điều còn cần tiếp tục điều tra kỹ. Tuy nhiên, như nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, việc tàn phá thiên nhiên quy mô lớn là một nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều giống loài virus nguy hiểm ngày càng dễ dàng tiếp cận với xã hội con người. Thời gian đại dịch, thời gian phong tỏa, giãn cách cũng chính là thời gian để chiêm nghiệm về mối quan hệ con người - thiên nhiên ấy (không kể những ai đang phải quay cuồng với cuộc mưu sinh, hay trong tình trạng đói khát cùng cực).   Du lịch sinh thái - cộng đồng, đến với thiên nhiên, với những cộng đồng bản địa gắn bó lâu đời với một môi trường sinh thái mang lại một cơ hội cho con người tìm lại niềm vui sống với thiên nhiên, trong các hoạt động canh tác nông nghiệp bền vững, trong môi trường giãn cách thực sự, ít nguy cơ lây nhiễm, là một hướng đi có triển vọng không chỉ trong giai đoạn ước tính hơn nửa năm trước mắt, khi Việt Nam tìm cách thích ứng với bệnh dịch Covid-19, trong bối cảnh luồng du khách từ nước ngoài còn bị hạn chế rất nhiều. Đây rất có thể cũng sẽ là hướng phát triển chủ đạo của du lịch trong tương lai, khi con người chú trọng nhiều hơn, sao cho phát triển kinh tế không hủy hoại thiên nhiên, lợi ích của một cộng đồng này không chà đạp lên lợi ích của cộng đồng khác. Đảo Bé (Lý Sơn) ven bờ Biển Đông, vùng miệt vườn cù lao ươm đầy cây trái ven sông Tiền Giang đồng bằng Cửu Long, thung lũng người Thái, người H’Mông đèo Khau Phạ - Tây Bắc… khi nào sẽ được trở lại đón khách ? Một hướng đi cổ vũ cho du lịch « Xanh », vừa Xanh về mặt an toàn dịch bệnh, vừa Xanh về ý nghĩa môi trường - sinh thái, và Xanh trong quan hệ hòa bình giữa người với người rất có thể là chìa khóa cho sự hồi phục bền vững của du lịch Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn chị Thảo Nguyên, các ông Ken Atkinson, Nguyễn Trí Nghiệp, Nguyễn Minh Trí và Huỳnh Tấn Vinh đã dành thời gian cho Tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự.
    10/18/2021
    9:30
  • Tạp chí Việt Nam - Việt Nam qua góc nhìn của người Việt
    Một nước Việt Nam qua cách nhìn của người Việt, để người Việt tự đoán vận mệnh là ý tưởng của cuốn sách Vietnamiens : Lignes de vie d’un peuple (tạm dịch : Người Việt : Những đường đời của một dân tộc) của nhà nghiên cứu lịch sử Benoît de Tréglodé, do nhà xuất bản Henry Dougier phát hành ngày 30/09/2021. 26 người Việt được tác giả mời tham gia vào cuốn sách là 26 mảnh đời khác nhau, đại diện cho nhiều lĩnh vực, từ nhà nghiên cứu đến nghệ sĩ, từ cựu chiến binh, cảnh sát đến những nhà đối lập… và đến từ nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước. Tác giả muốn để những người trong cuộc nói về một « Việt Nam thay đổi ! », không chỉ còn là « những xáo trộn trong thế kỷ trước » mà hướng đến « một tương lai năng động », theo lời tóm tắt của nhà xuất bản về cuốn sách. Nhà sử học Benoît de Tréglodé, giám đốc nghiên cứu tại Viện IRSEM, trường Quân Sự Pháp, tác giả cuốn sách, đã dành cho ban tiếng Việt đài RFI buổi phỏng vấn ngày 06/10/2021. ***** RFI : Cuốn sách Vietnamiens : Lignes de Vie d’un peuple (tạm dịch : Người Việt - Những đường đời của một dân tộc),  được phát hành từ ngày 30/09/2021. Ông đã liên lạc với nhiều người Việt để mời họ tham gia vào cuốn sách. Họ có phản ứng như thế nào ? Benoît de Tréglodé : Trước tiên phải nói là cuốn Vietnamiens không phải là một tác phẩm chỉ đơn thuần nói về lịch sử hay lịch sử chính trị, không phải kiểu sách bình thường tôi vẫn viết. Tôi muốn nói về Việt Nam ngày nay, với cách tiếp cận vừa mang tính văn hóa, vừa thường nhật. Đúng là một số người biết tôi trong tư cách là nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đương đại, vì thế tôi đã gặp một vài khó khăn để tìm được 26 vị khách mời. Một vài người trong số này đã từ chối tham gia cuốn sách bởi vì sợ tôi kéo họ vào lĩnh vực chính trị. Dĩ nhiên đó không phải là mục đích của tôi, nhưng khi nói về Việt Nam đương đại, thì bằng cách này hay cách khác cũng chạm đến cuộc sống hàng của người dân và đôi khi là thêm một chút chính trị. RFI : Từ chối vì sợ hoặc tự kiểm duyệt có phải là điều bình thường trong xã hội ngày nay không ? Benoît de Tréglodé : Những ai đã sống ở Việt Nam, làm việc với Việt Nam đều biết rằng kiểu tự kiểm duyệt này đôi khi là cần thiết để có thể tiếp tục đối thoại. Điều thú vị mà tôi nhận ra trong cuốn sách này là những người tự kiểm duyệt, thậm chí là không muốn tham gia vào tác phẩm, thường là những người thuộc thế hệ cũ, cao tuổi hơn. Ngược lại, những người Việt tầm 20, 30 tuổi mà tôi liên lạc, thì lại không phản ứng như thế, kiểu như sợ phải nói gì. Tôi có cảm giác là có sự thay đổi về mối liên hệ với chính quyền, mối liên hệ với tương lai của xã hội Việt Nam. Theo tôi, sự thay đổi này được giải thích đơn giản bằng một điều, đó là mỗi cá nhân không có chung cách cảm nhận về lịch sử, ý tôi muốn nói đến lịch sử các cuộc chiến tranh, các xung đột, chế độ chuyên quyền. Lịch sử đó không còn hiện rõ, không còn được cảm nhận như cách của các thế hệ trước. Rõ ràng thế hệ trẻ muốn hướng đến phát triển kinh tế, muốn chinh phục khu vực Đông Nam Á. Tôi tin là có một sự thay đổi thực sự. RFI : Vì ít nhiều liên quan đến đời sống thường nhật nên cuốn sách được chia thành nhiều chương, liên quan đến lịch sử, văn hóa, xã hội… ? Benoît de Tréglodé : Đây không hoàn toàn là ý tưởng của tôi.Cuốn sách này bắt nguồn từ một bộ sưu tập được nhà xuất bản Henry Dougier phát hành từ 6 năm nay. Ông Henry Dougier là một nhà xuất bản có tiếng ở Pháp, ông lập một bộ sưu tập và Vietnamiens là cuốn thứ 50 được phát hành, có rất nhiều cuốn khác nói về các nước châu Á. Chủ ý của bộ sưu tập là vẽ nên chân dung của một dân tộc, một đất nước qua tiếng nói của 26 nhân vật, 26 người được gặp gỡ, trao đổi và được cho là mang lại hình ảnh gần với thực tế của đất nước đó.   RFI : Chính vì thế mà trong cuốn sách này, vai trò đã được thay đổi. Ông để người Việt tự nói về họ, về đất nước, về quá trình phát triển của đất nước, còn ông đóng vai trò là người nghe, ghi chép và truyền tải lại thay vì là nhà quan sát, nhà nghiên cứu. Ông chọn những người phỏng vấn như thế nào ? Benoît de Tréglodé : Trước hết phải nói là tôi không thấy thoải mái với ý nghĩ là tôi, một nhà nghiên cứu, người Pháp, lại viết một cuốn sách nói về người Việt là ai, Việt Nam là nước như thế nào… Vì thế khi nhà xuất bản đề nghị tôi để 26 người Việt tự nói về cuộc sống hàng ngày của họ, cách họ nhận thức và hiểu về lịch sử đất nước họ, những khó khăn và niềm vui của họ, thì tôi thấy vô cùng thú vị. Công việc của một nhà nghiên cứu về Việt Nam đã buộc tôi có được phần nào tính khách quan để cố gắng hiểu được những gì đang xảy ra ở đất nước này. Và với cuốn Vietnamiens, đó là một niềm hạnh phúc bởi vì tôi đã có thể đến ngồi nhà bạn bè, nhà người quen, đi uống cà phê hay nhà hàng để nghe họ nói với tôi về nước Việt Nam của họ. Đây chính là động lực đã khiến tôi muốn viết cuốn sách này. Tiếp theo là phải tìm cách có được một hình ảnh hài hòa vì chúng ta biết ý nghĩa quan trọng của yếu tố địa lý, nên cần có một người Việt ở miền bắc, miền trung, miền nam, hay một người Việt ở cao nguyên hoặc vùng núi, một người dân tộc thiểu số hay dân tộc Kinh đa số, một người Việt ở đô thị hay ở nông thôn, một người Việt ở tầng lớp trung lưu hay thượng lưu hoặc có xuất thân bình dân hơn. Tất cả những yếu tố đó đều quan trọng giúp hiểu được và tạo cho người đọc một cách diễn giải về thực tế của Việt Nam khác đi một chút. Thường thì một nhà nghiên cứu khi đi thực địa hay gặp những người khá có uy tín và chuyên môn nhưng những người này không phải là đại diện cho sự phức tạp của một quốc gia, một xã hội. Cuốn sách nhỏ bé này lại cho phép tôi làm điều đó, được nán lại với những người mà tôi vẫn tạm gác qua một bên khi làm nghiên cứu với tư cách là một nhà sử học. RFI : Bìa của cuốn sách là hình một bàn tay, như để xem bói, với những đường chỉ tay là những con sông hay đường phân giới giữa các tỉnh trên bản đồ Việt Nam. Đây là ý tưởng của ông ? Có thể thấy trong cuốn sách có quá khứ, có hiện tại, nhưng dường như tương lai không được đề cập nhiều. Benoît de Tréglodé : Mọi dân tộc trên thế giới đều rất khó dự đoán được tương lai của họ. Ở Pháp cũng thế, có nhiều câu hỏi được đặt ra cho người dân Pháp, có những câu hỏi về dự định, về tương lai. Thực ra, hình ảnh trang bìa là ý tưởng của nhà xuất bản và họ nhấn mạnh ngay ở phía dưới là « lignes de vie d’un peuple » (đường đời của một dân tộc). Cần phải nhắc lại lần nữa, đây là một bộ sưu tập dành tiếng nói cho những con người đóng góp vào lịch sử một đất nước. Họ không ở đó để phán xét hay sử dụng những diễn đạt của họ về xã hội Việt Nam cho một mục tiêu khác. Cần phải biết là chuyện biến khoa học nhân văn thành công cụ là điều gì đó vô cùng quan trọng ở Việt Nam, cũng như phần nào đó ở Pháp. Tôi là một nhà nghiên cứu về Việt Nam xuất thân từ một thế hệ lớn lên sau thời kỳ mà thế hệ nghiên cứu trước khá thiên về chính trị, cách nhìn về Việt Nam cũng mang tính đấu tranh. Nhưng điểm này chưa bao giờ khiến tôi quan tâm hay thúc đẩy tôi mà ngược lại, cuốn sách này là nhằm để người dân tự do nói trong khuôn khổ loạt trao đổi, gặp gỡ. Đó là những chân dung, những lúc tôi kể lại bối cảnh rất thực tại nhiều nơi ở Việt Nam. Tôi cố gắng giữ một khoảng cách thường xuyên nhất có thể và để 26 người tôi gặp tự quyết định điều họ muốn nói. RFI : Chương cuối cùng được dành cho tiếng nói của một số Việt kiều, dù ban đầu ông không có ý định đó, theo giải thích trong lời mở đầu. Trong một buổi phỏng vấn với RFI về tập điều tra Opérations d’Influence chinoises (Những chiến dịch gây ảnh hưởng của Trung Quốc), đồng nghiệp của ông ở Viện IRSEM, ông Paul Charon đã lưu ý rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc tìm cách kiểm soát « cách » kể về chính quyền, về lịch sử đảng trong cộng đồng kiều dân Trung Quốc sống ở các nước dân chủ. Ở Việt Nam thì thế nào ? Benoît de Tréglodé : Thực ra, chính sách của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam về Việt kiều thì đã có rất nhiều điều được viết và được làm. Đúng là từ năm 1975, người ta có thể xác định nhiều thời kỳ mà đối với chính quyền Việt Nam, vấn đề thoạt tiên được cho là nhạy cả về mặt chính trị, sau này chính sách về Việt kiều lại mang ý nghĩa trung tâm về mặt kinh tế. Nhưng đây không phải là mục đích của cuốn sách. Nếu như tôi quyết định dành chương cuối cho bốn Việt kiều ở Pháp và Mỹ, đó là vì họ mang lại một cách nhìn khác đi về văn hóa gốc gác của họ, đôi lúc là mơ tưởng, lúc thì lại được trí thức hóa. Khi tôi bắt tay viết cuốn sách này, tôi được xem vở kịch Sài Gòn rất hay của nhà viết kịch Pháp gốc Việt Caroline Nguyễn. Tôi thấy có hướng hoài cổ, u sầu, đẹp vô cùng và phần nào có cách nhìn của tác giả về Việt Nam. Tôi thấy có mối liên hệ giữa lời ca của ca sĩ Hồng Nhung ở Việt Nam với điều người ta thấy trong cách diễn đạt của một bộ phận Việt kiều về quê hương họ và nhu cầu kết nối lại với bản sắc Việt Nam, thông qua ẩm thực, âm nhạc, những kỷ niệm, gia đình… Đối với tôi đây là điều không thể thiếu. Không thể nói về Việt Nam ngày nay, người Việt ngày nay mà lại không gộp cả Việt kiều. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà sử học Benoît de Tréglodé, giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu IRSEM của trường Quân Sự Pháp (Ecole militaire), tác giả cuốn Vietnamiens : Lignes de vie d’un peuple.
    10/11/2021
    9:36
  • Tạp chí Việt Nam - Covid-19 : EuroCham và doanh nghiệp châu Âu vận động các chính phủ viện trợ Việt Nam chống dịch
    Liên Hiệp Châu Âu là khu vực hàng đầu viện trợ vac-xin ngừa Covid-19 cho Việt Nam với gần 8,6 triệu liều chỉ trong hơn một tháng, từ giữa tháng 08 đến 28/09/2021, thông qua cơ chế COVAX và viện trợ song phương. Giúp Việt Nam chống dịch, xuất phát từ tinh thần tương ái, nhưng cũng là dịp "trả ơn" và nằm trong lợi ích của nhiều nước châu Âu vì Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của khối tại Đông Nam Á và có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu. Để có được kết quả trên, phải nhấn mạnh đến vai trò của Phòng Thương Mại Châu Âu (EuroCham) và hơn 1.100 doanh nghiệp thành viên hoạt động tại Việt Nam. Vào lúc dịch bùng phát tại Việt Nam làm đứt gãy dây chuyền sản xuất, trong khi chính quyền trung ương và địa phương cũng bị động trước sức tàn phá do biến thể virus Delta, chính các doanh nghiệp thành viên EuroCham, kết hợp với các cơ quan ngoại giao của nước họ, đã phản ánh tình hình tại Việt Nam cho các chính phủ ở châu Âu. Song song đó, họ ủng hộ sáng kiến gây quỹ tại Việt Nam của ông Gricha Safarian, người sáng lập kiêm tổng giám đốc công ty Puratos Grand-Palace Việt Nam. EuroCham đứng ra làm trung gian lập quỹ. Ngày 17/08, Quỹ Breathe Again (Breathe Again Fund, https://breatheagain.fund/) chính thức ra mắt để mọi doanh nghiệp, cá nhân châu Âu có thể đóng góp. Tính đến ngày 03/10, Quỹ đã thu được 1,138 triệu euro, trong đó có 670.000 euro trị giá thiết bị, vật tư y tế được nhà tài trợ thành viên EuroCham gửi trực tiếp đến nơi tiếp nhận. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 30/10, bà Delphine Rousselet, giám đốc điều hành EuroCham Việt Nam, cho biết đây là cách để các nước, cũng như các doanh nghiệp châu Âu sát cánh cùng Việt Nam chống dịch. RFI : Quỹ Breathe Again được ra đời trong bối cảnh nào và nhằm mục đích gì ? Bà Delphine Rousselet : EuroCham là một hiệp hội doanh nghiệp hiện có hơn 1.100 công ty thành viên, trong đó có nhiều đại tập đoàn châu Âu, cũng như doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc công ty tư nhân. Vào lúc tôi nhậm chức giám đốc điều hành EuroCham ngày 05/07, tình hình dịch ở thành phố Hồ Chí Minh trở nên rất khó khăn. Tôi chưa hề được gặp các đồng nghiệp và chỉ làm việc trực tuyến, từ xa với họ. Tôi nêu ví dụ cá nhân này để cho thấy tình hình rất đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng giữa tháng Bẩy, khi thảo luận với chủ tịch EuroCham Alain Cany, tôi nói với ông ấy là phải làm gì đó để hỗ trợ Việt Nam. EuroCham hoạt động ở Việt Nam gần 25 năm, chúng tôi đã cố gắng hỗ trợ nhân viên và thành viên của hội trong đợt dịch, nên chúng tôi thấy phải giúp đỡ Việt Nam. May mắn là EuroCham được chính quyền Việt Nam biết đến và được tôn trọng. Uy tín đó giúp chúng tôi có tính chính đáng và danh tiếng để huy động mọi người ủng hộ chiến dịch hành động của chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy rằng trong số thành viên của EuroCham, kể cả những tập đoàn châu Âu lớn đang hoạt động ở Việt Nam, có rất nhiều doanh nghiệp muốn làm gì đó cho Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng này nhưng thường không biết phải làm thế nào bởi vì không phải cứ chi tiền ra là được, mà còn phải tìm được cách quyên tặng thích hợp. Tại sao tôi nói như vậy ? Đó là vì gần đây Việt Nam lập Quỹ vac-xin phòng chống Covid-19 nhưng lại do chính phủ quản lý, trong khi đa số tập đoàn lớn của Pháp có những nội quy nghiêm ngặt, tuyệt đối cấm trao tặng cho các chính phủ. Điều này cũng bị cấm trong nhiều đạo luật châu Âu. Cho nên dù những công ty này có điều kiện nhưng lại không rõ cách làm, hoặc không đủ bảo đảm minh bạch theo quy định đề ra của trụ sở ở châu Âu. Do đó EuroCham đã giới thiệu dự án Breathe Again, giải thích với họ là sẽ minh bạch tuyệt đối. Chúng tôi mở một tài khoản ngân hàng dành riêng cho những khoản viện trợ và chiến dịch quyên góp này. Chúng tôi nhấn mạnh đến yếu tố minh bạch với các thành viên EuroCham nên họ có thể yên tâm sử dụng quỹ hỗ trợ Việt Nam và cũng thuận tiện cho bên thụ hưởng, thường là bệnh viện. Tuy nhiên, hiện giờ vẫn chủ yếu là các bệnh viện ở miền nam vì đây là vùng bị dịch tác động nặng nhất trong những tháng gần đây và cũng là khu vực hoạt động của đa số thành viên EuroCham. Rất nhiều nhà công nghiệp thành viên của EuroCham sản xuất quanh thành phố Hồ Chí Minh, như ở Bình Dương, Đồng Nai hay Bà Rịa-Vũng Tàu… Chúng tôi liên lạc trực tiếp trước với các bệnh viện ở miền nam để tìm hiểu nhu cầu thiết bị y tế của họ. Do tình hình dịch thay đổi rất nhanh nên nhu cầu cũng thay đổi theo, ví dụ cách đây 5-6 tuần, các bệnh viện cần máy trợ thở là chủ yếu, nhưng từ 2-3 tuần nay lại cần máy theo dõi monitor, thậm chí hiện giờ họ đề nghị chúng tôi cung cấp thuốc. Nhưng không dễ mua được thuốc ở Việt Nam. Chúng tôi đang thử nhưng chưa làm được. Nói tóm lại, chúng tôi cố đáp ứng cùng lúc nhiều nhu cầu trong bối cảnh hiện nay. Thứ nhất dĩ nhiên là nhu cầu từ phía Việt Nam và các bệnh viện. Tiếp theo là nhu cầu của các thành viên EuroCham, muốn có một kênh minh bạch để có thể ủng hộ và yên tâm rằng các trang thiết bị, tiền viện trợ được sử dụng đúng mục đích. RFI : Quỹ được khởi động ngày 17/08, số tiền quyên góp được sử dụng như thế nào ? Liệu doanh nghiệp thành viên có thể quyên góp vật chất trực tiếp không ? Bà D. Rousselet : Có hai điểm cần nêu ở đây. Một mặt có những doanh nghiệp, thậm chí là cá nhân, quyên góp tiền. Tất cả đều được chuyển vào tài khoản mà chúng tôi đã mở cho Breathe Again Fund. Mặt khác, chúng tôi có những thành viên là những công ty lớn muốn tặng trực tiếp cho một số bệnh viện, do họ hoạt động ở gần những bệnh viện đó chẳng hạn nên muốn trao quà trực tiếp mà không qua tài khoản của Breathe Again Fund. Dĩ nhiên cách làm này không có vấn đề gì. Điều quan trọng là thiết bị viện trợ được chuyển thẳng đến bệnh viện. Nếu gộp cả giá trị của trang thiết bị được chuyển thẳng đến bên nhận mà không qua trung gian của EuroCham, hiện giờ chiến dịch đã quyên góp được hơn 1,1 triệu euro (tính đến ngày phỏng vấn 30/09/2021). Chúng tôi lập trang web với ba đồng hồ tính tổng số tiền quyên góp và đã chi. Trang web này được cập nhật thường xuyên. RFI : EuroCham đóng vai trò như nào trong việc quản lý quỹ và phân phối thiết bị được quyên góp ? Bà D. Rousselet : Một trong những nguyên tắc của chúng tôi là « minh bạch », như tôi nói ở trên. Ngoài ra, chúng tôi còn theo nguyên tắc « nhanh chóng » và « hiệu quả » để có được tác động thực sự. Chúng tôi không muốn ngồi chờ, chờ cho đến khi đạt được một khoản tiền nào đó, rồi cùng lúc ồ ạt mua thiết bị. Ngược lại, chúng tôi muốn mua và tặng nhanh nhất có thể, ngay khi có một khoản tiền. Và để bảo đảm tính hiệu quả của chiến dịch, chúng tôi phải lập tức tìm được trang thiết bị có sẵn. Vì thế, chúng tôi liên lạc với nhiều nhà phân phối, nhập khẩu thiết bị y tế, dĩ nhiên chủ yếu là các thương hiệu châu Âu, để nắm số hàng có sẵn trong kho mà họ có thể giao ngay. Chúng tôi không muốn chờ nhập từ châu Âu vì mất thêm thời gian vận chuyển, thủ tục hải quan… Chúng tôi đã liên lạc tổng cộng khoảng 12 nhà phân phối và nhập khẩu, đề nghị báo giá và tình hình kho của họ. Tất cả những thông tin này được chúng tôi tổng hợp thành một tài liệu hàng có sẵn, sau đó liên lạc với các bệnh viện trong vùng. Ví dụ họ nói là cần máy monitor theo dõi, chúng tôi sẽ tìm trong kho dữ liệu xem công ty nào nhập và phân phối thiết bị đó, hoặc công ty nào báo đã có sẵn, mẫu mã, giá cả, điều kiện thanh toán… Có nghĩa là chúng tôi có sẵn mọi thông tin để có thể hành động nhanh chóng. Dĩ nhiên chúng tôi cũng mặc cả để có giá hợp lý. Khi đàm phán mua, chúng tôi thêm điều khoản yêu cầu nhà cung cấp chuyển trang thiết bị được mua đến tận bệnh viện thụ hưởng. Ngày giao hàng, chúng tôi phải bố trí để có thể đến tận nơi theo dõi. Đây chính là nguyên tắc minh bạch mà tôi nói ở trên. Chúng tôi cần kiểm tra xem thiết bị mà chúng tôi tặng bệnh viện là thiết bị mới, hoạt động tốt, có nghĩa không phải tặng bất kỳ máy móc nào. Chúng tôi đề nghị phía bệnh viện kiểm tra cẩn thận trước khi ký chứng nhận trao tặng chính thức. EuroCham có người đến dự trực tiếp, hiện tại chủ yếu là tôi do các biện pháp giãn cách chống dịch, để chắc chắn mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, thiết bị đúng tiêu chuẩn và không gặp vấn đề. RFI : Cùng thời điểm với việc EuroCham lập Breathe Again Fund, rất nhiều nước Liên Hiệp Châu Âu cũng viện trợ vac-xin cho Việt Nam. Liệu có sự trùng hợp ngẫu nhiên nào không, hay EuroCham đóng vai trò nào đó ? Bà D. Rousselet : Dĩ nhiên là có. Chúng tôi có quan hệ mật thiết và làm việc với tất cả đại diện các nước trong Liên Hiệp Châu Âu, có nghĩa là các đại sứ, tổng lãnh sự, phòng thương mại. Ngay từ đầu tháng 07/2021, chủ tịch Alain Cany cùng với toàn bộ thành viên EuroCham đã nhiều lần họp với các đại sứ của tất cả các nước Liên Hiệp Châu Âu để tìm hướng hành động chung, chuyển thông tin đến chính phủ các nước châu Âu bởi vì chưa chắc họ đã hình dung ra được thực trạng dịch ở Việt Nam. Đúng là năm 2020, Việt Nam là « trò giỏi », gần như không bị dịch tác động nhưng tình hình đột ngột thay đổi. Trong khi các nước châu Âu đã tiêm chủng cho hầu hết người dân thì Việt Nam bắt đầu gặp khó khăn lớn và châu Âu không hiểu được hết vấn đề này. Vì thế chúng tôi đã phối hợp với nhau, không chỉ làm việc với các đại sứ của các nước Liên Hiệp Châu Âu mà còn với các tập đoàn lớn châu Âu, trong đó có nhiều nhà nhà công nghiệp đã đầu tư lớn hoặc hoạt động lâu năm ở Việt Nam, để họ đồng loạt thông báo tình hình dịch ở Việt Nam về trụ sở ở châu Âu. Việc phối hợp hành động, cùng lúc với cơ quan ngoại giao và lĩnh vực kinh doanh, đã giúp các chính phủ châu Âu nhận ra rằng họ có các công ty lớn đang hoạt động ở Việt Nam và những công ty này đang gặp nguy hiểm vì dịch bùng phát mạnh, kiều dân của họ cũng gặp nguy và cần phải hành động. Pháp là nước đầu tiên gửi vac-xin tiêm chủng cho công dân Pháp ở Việt Nam. Quyết định này đã đánh động nhiều nước châu Âu khác cũng gửi vac-xin cho kiều dân của họ. Sau đó, các nước Liên Hiệp Châu Âu đã viện trợ khối lượng lớn vac-xin để giúp đỡ Việt Nam. Cứ như thế tạo thành dây chuyền, hành động này kéo theo hành động khác. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn bà Delphine Rousselet, giám đốc điều hành Phòng Thương mại châu Âu - EuroCham tại thành phố Hồ Chí Minh.
    10/4/2021
    11:00
  • Tạp chí Việt Nam - Covid-19: Việt Nam sẽ phải sống chung với dịch như thế nào?
    Do tình hình dịch Covid-19 đang tạm thời ổn định, một số tỉnh thành ở Việt Nam đã nới lỏng các biện pháp “giãn cách xã hội” như Hà Nội, Đồng Nai, Long An, Đà Nẵng. Trong khi đó, một số nơi khác thì vẫn duy trì các biện pháp hạn chế. Riêng Sài Gòn, tâm chấn của đợt dịch lần này, hiện tiếp tục áp dụng giãn cách xã hội cho đến hết ngày 30/09.   Nhưng dù tình hình dịch Covid-19 có diễn biến như thế nào thì Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng cũng không thể “giãn cách xã hội” mãi mãi, mà đã đến lúc phải dỡ bỏ hoặc nới lỏng các biện pháp đó, để hoạt động kinh tế và xã hội dần trở lại bình thường, nói cách khác là phải sống chung với virus corona. Nhưng phải sống chung như thế nào? Sau đây là những ý kiến của hai bác sĩ tại Sài Gòn.  Theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, nguyên Trưởng khoa Nhiễm - Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 1, Sài Gòn, đối với một thành phố có đến gần 10 triệu dân, việc dỡ bỏ phải được tiến hành từng bước:  “ Chắc chắn sẽ không thể nào dỡ bỏ một lần, vì khi chúng ta giãn cách xã hội thì cũng đã giãn cách từng phần để thăm dò từ mức tối đa. Nếu chúng ta có dỡ bỏ thì cũng phải dỡ bỏ từng khu vực, rồi theo dõi các chỉ số, dỡ bỏ từng đối tượng. Những đối tượng nào chưa dỡ bỏ được thì mình phải chích ngừa cho họ. Không thể một lần mình dỡ hoàn toàn được, vì nếu để “vỡ trận” trở lại thì sẽ tốn kém hơn rất nhiều. Thành ra mình phải vừa dỡ bỏ, vừa thăm dò, và dĩ nhiên là mình cũng thực hiện những nguyên tắc để hạn chế lây lan nhất mà vẫn phát triển kinh tế được. Từng bước mình sẽ mở rộng ra để thăm dò sức chịu đựng của ngành y tế như thế nào.” Cũng theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, việc dỡ bỏ giãn cách cũng tùy thuộc vào tỷ lệ chích ngừa của từng địa phương: “ Đặc biệt là những nơi có dịch lớn, giống như Thành Phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, việc mở cửa phụ thuộc vào tỷ lệ chích ngừa. Hiện tại ở Thành Phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ chích ngừa mũi một khá là cao, khoảng 80% rồi, tỷ lệ chích mũi hai cũng đã là 30% rồi. Có lẽ đến hết tháng 9 thì cũng sẽ mở cửa lại, chứ không có cách nào khác.  Thứ hai là khi mở cửa, Thành Phố Hồ Chí Minh cũng dự trù là sẽ mở cửa từng đối tượng, từng giai đoạn và đặc biệt là theo dõi chỉ số về những ca nặng mới để đánh giá là mở cửa như vậy thì áp lực lên khối điều trị sẽ như thế nào. Có lẽ những nơi nào mà dịch đã thâm nhập vào cộng đồng thì cũng sẽ làm theo hướng đó. Chỉ cần đánh giá số ca mới. Nếu mở ra mà số nặng mới không ảnh hưởng gì đến ngành y tế thì mình đâu có gì để bàn.” Về phần bác sĩ Võ Xuân Sơn, Phòng khám quốc tế EXSON, tác giả nhiều bài viết trên mạng về việc phòng chống Covid tại Việt Nam, ông cho rằng việc dỡ bỏ từng bước các biện pháp giãn cách xã hội, mà ông gọi là "phong tỏa", phải mang tính chất “đồng bộ”: “ Hiện nay, chính quyền đang thông báo là sẽ dỡ bỏ từng bước, nhưng thật sự thì nếu dỡ bỏ từng bước mà không hoạch định được bước nào đi trước, bước nào đi sau, không đồng bộ, thì việc dỡ bỏ sẽ chẳng mang lại được gì cả. Bây giờ ví dụ như dỡ bỏ cho các phòng khám cho khám bệnh trở lại, nhưng không dỡ bỏ cho người dân ở các nơi đi khám bệnh, thì làm sao người ta khám? Giống như là vừa rồi dỡ bỏ cho các cửa hàng bán lại, nhưng không cho người dân ra đó mua, thì làm sao mà mua? Thế rồi lại bắt mua qua shippers, thì giá sẽ bị đội lên rất là nhiều. Cuối cùng, rất nhiều cửa hàng không bán hàng lại! Cho nên, nếu muốn dỡ bỏ, muốn phục hồi kinh tế, thì các biện pháp đưa ra phải đồng bộ và phải kích thích được sự phát triển kinh tế, còn nếu mà cứ mở cái này mà lại ngăn cái khác thì cuối cùng sẽ không có hiệu quả gì cả.”  Với việc dỡ bỏ giãn cách xã hội, một vấn đề khác đang đặt ra là Việt Nam có nên tiếp tục xét nghiệm ồ ạt, xét nghiệm “thần tốc” như hiện nay hay không? Bác sĩ Võ Xuân Sơn cho rằng cần phải tiến hành xét nghiệm “có trọng điểm”:   “Việc xét nghiệm tràn lan như bây giờ chắc là trên thế giới không có ở đâu làm. Việt Nam đang làm một cách độc nhất vô nhị trên thế giới. Nếu muốn hội nhập với thế giới, muốn giải quyết nạn dịch này, thì không thể tiếp tục làm như vậy, mà phải xét nghiệm có trọng điểm, xét nghiệm theo yêu cầu, theo khu vực cần thiết. Cần thiết như thế nào và xét nghiệm ở đâu thì phải theo hướng dẫn của bên dịch tễ, làm sao để phục vụ được mục đích phát hiện những người bị nhiễm để có thể giúp đỡ họ, để mau chóng vượt qua, mà không gây tốn kém nhiều, không gây ảnh hưởng nhiều đến xã hội như là bây giờ. Còn nếu không làm như thế, mà cứ tiếp tục như bây giờ thì chắc một thời gian ngắn nữa là  sẽ “sập tiệm” hết, không còn ngân sách nào chịu nổi, không còn người dân nào chịu nổi, vì sẽ có rất nhiều vấn đề phát sinh từ cách làm đó.” Về phần mình, bác sĩ Trương Hữu Khanh cũng cho rằng, theo chiều hướng Việt Nam phải sống chung với dịch Covid-19, chỉ nên xét nghiệm một cách chọn lọc: “ Nếu chúng ta mở cửa lại, thì chúng ta chỉ nên xét nghiệm những người nào có triệu chứng và cần đến bệnh viện, chứ còn cách lây lan của Covid thì nó rất giống với những bệnh khác về đường hô hấp. Những đối tượng đã được chích ngừa rồi nếu bị nhiễm và có bệnh nhẹ, thì họ cũng sẽ tự khỏi. Quan trọng nhất là nếu người đó mắc bệnh, mà trong nhà họ có người nguy cơ bệnh nặng, thì ta mới xét nghiệm nhanh để tách người đó ra. Còn nếu trong nhà đó chỉ có những người trẻ và đã được chích ngừa rồi, thì không cần xét nghiệm làm gì. Những người nào đến bệnh viện và có triệu chứng nặng về hô hấp, thì mình mới xét nghiệm xem có đúng là Covid hay không, để mình tách ra điều trị cách ly và điều trị hỗ trợ. Việc xét nghiệm đó phải được đánh giá theo từng khu vực. Nếu mình thấy khu vực đó không có nguy cơ tấn công vào các đối tượng nguy cơ, thì mình không cần xét nghiệm làm gì”. Trong chiều hướng dỡ bỏ phong tỏa, bác sĩ Võ Xuân Sơn cũng đề nghị xét nghiệm kháng thể để xác định tỷ lệ miễn nhiễm trong cộng đồng: “ Ở Sài Gòn thì tỷ lệ chích ngừa đã cao và tỷ lệ đã có kháng thể do đã bị nhiễm rồi mà người ta không biết hoặc chưa khai báo thì cũng cao. Theo tôi, đã đến lúc dỡ bỏ phong tỏa. Nếu nhà nước cần thì có thể sử dụng test (xét nghiệm) kháng thể, để điều tra xem có bao nhiêu phần trăm dân đã được như vậy. Nói chung là, với hình thức thẻ xanh, thẻ vàng, thẻ đỏ (thẻ xanh thì cho ra đường), ngoài chuyện chích ngừa, thì có thể làm thêm test kháng thể, để những người nào có kháng thể rồi thì cho người ta ra đường, dù chưa được chích vac-xin. Còn tôi thì nghĩ rằng chẳng cần thẻ xanh, thẻ đỏ gì cả, vì bây giờ tỷ lệ chích ngừa đã đủ để cho người ta đi ra đường rồi. Và nếu mình điều chỉnh được các kế hoạch điều trị cho những người bị nhiễm, thì dịch sẽ không đáng sợ như thời gian vừa rồi nữa.“ Cùng với việc thay đổi cách thức xét nghiệm, theo bác sĩ Võ Xuân Sơn, việc điều trị các bệnh nhân Covid cũng cần phải được điều chỉnh theo hướng không nên tập trung quá nhiều trong các bệnh viện, nhất là các bệnh viện dã chiến, mà ông cho là thiếu nhiều thiết bị, thậm chí thiếu bác sĩ: “ Riêng về việc điều trị F0 thì gần đây cũng đã có những thay đổi, ít nhất là tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tức là người ta đã chú ý đến việc điều trị bệnh nhân ngay từ khi mới bắt đầu bị nhiễm, chứ không chờ đến khi người ta trở nặng, vào bệnh viện, rồi mới bắt đầu chữa. Tôi thấy hướng thay đổi đó nói chung là tốt. Thứ hai là bệnh viện chỉ nên dành cho những người cần phải nằm viện, còn khi người ta chưa đến mức phải nằm viện, thì để họ ở nhà. Nhưng ở nhà thì không phải như hồi trước, mà phải có sự theo dõi sát sao của bên y tế, để khi họ có những vấn đề gì, thì họ sẽ được tư vấn, họ không bị bỏ rơi. Khi họ trở nặng thì phải có ngay những phương tiện, những hệ thống để đưa họ vào bệnh viện cứu chữa được. Điều đó sẽ làm giảm thiểu tỷ lệ tử vong, cũng như là giảm thiểu nỗi hoang mang trong xã hội đối với bệnh này. Tôi không cho việc tập trung tất cả những người bị nhiễm vào trong các bệnh viện dã chiến là tốt. Nếu tập trung hết vào các bệnh viện, thì thứ nhất là về mặt chi phí sẽ tốn kém rất nhiều, thứ hai làm như vậy là tách người bệnh ra khỏi môi trường gia đình. Người Việt Nam khác với người Mỹ, người Pháp, người châu Âu, không có mấy người vào bệnh viện một mình, bao giờ cũng có con, có cháu đi theo. Thành ra khi đưa vào đó một mình, nhất là những người già, thì người ta mau chóng trở nặng lắm, mau chóng suy sụp tinh thần, từ đó nó phát sinh rất nhiều cái khác. Thứ ba là điều kiện chăm sóc trong các bệnh viện dã chiến thật sự là từ đó đến giờ đều không tốt, thiếu thốn nhiều thứ, thậm chí thiếu cả bác sĩ.  Cho nên, việc tập trung vào các khu vực bệnh viện dã chiến, mà thật ra là những khu cách ly gần như không có trang thiết bị gì cả, là không cần thiết và không nên. Chỉ nên duy trì những bệnh viện nào có trang thiết bị, có thầy thuốc đầy đủ, có điều kiện chăm sóc y tế tốt, chỉ tiếp nhận những người cần phải vào bệnh viện, vào đó là được chăm sóc, cứu chữa đúng nghĩa.” Về phần người dân, một khi các biện pháp giãn cách xã hội được dỡ bỏ hay nới lỏng, mọi người dĩ nhiên phải tiếp tục tuân thủ việc đeo khẩu trang ở nơi công cộng, những nơi kín, và giữ khoảng cách an toàn với nhau. Đồng thời, theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, điều quan trọng là phải biết đề phòng cho những người có nguy cơ cao: "Trong tương lai mình phải hiểu mình là một đối tượng an toàn chưa, để mình hòa nhập. Và khi mình hòa nhập như vậy thì có ảnh hưởng đến cộng đồng hay ảnh hưởng đến người thân của mình hay không. Nếu mình đã được chích ngừa hai mũi thì khó có thể bệnh. Nhưng điều quan trọng là mình chỉ bệnh nhẹ và quan trọng hơn nữa là bệnh của mình có nguy cơ lây cho những người chưa chích ngừa, những người có nguy cơ bệnh nặng hay không. Đó là những điều mình cần phải học để sống chung với Covid. Nếu chúng ta đã được chích ngừa rồi hoặc đã khỏi bệnh rồi và chúng ta sinh hoạt trong những nhóm có những đối tượng giống chúng ta, rồi chúng ta trở về nhà và trong nhà không có những đối tượng có nguy cơ bệnh nặng, thì chúng ta có thể sinh hoạt như bình thường. Nếu có một điểm gút nào đó mà có thể tấn công các đối tượng nguy cơ thì chúng ta phải tránh ngay và đặc biệt phải đề phòng cho những đối tượng chưa chích ngừa đủ và đặc biệt là những người chưa chích ngừa đủ và có nguy cơ: cao tuổi, bệnh nền, béo phì. Thật ra về nguyên tắc, nếu chúng ta đã phòng ngừa hết bằng vac-xin cho những đối tượng nguy cơ, thì chúng ta không phải lo lắng gì cả. Lúc đó, nếu có ai mắc bệnh thì cũng sẽ chỉ là bệnh cảm cúm thông thường thôi và lúc đó thì số người không may mà mắc bệnh nặng sẽ rất là thấp, ngành y tế có thể tải được. Điều quan trọng nhất hiện nay có có đủ vac-xin để chích 2 mũi cho những đối tượng đó."
    9/27/2021
    11:30
  • Tạp chí Việt Nam - Nâng quan hệ Mỹ-Việt lên Đối tác chiến lược: Lợi ích và trở ngại
    Chỉ khoảng ba tuần sau chuyến công du Hà Nội của phó tổng thống Mỹ Kamala Harris, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cũng chọn Việt Nam mở đầu cho vòng công du bốn nước Đông và Đông Nam Á. Phó tổng thống Hoa Kỳ lên án những đòi hỏi chủ quyền và hành động chèn ép của Trung Quốc ở Biển Đông. Còn ông Vương Nghị như buộc các nước liên quan giữ nguyên trạng ở Biển Đông, đồng thời chống lại các hành động can thiệp của các thế lực bên ngoài. Phát biểu tại Hà Nội ngày 25/08/2021, phó tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris đã kêu gọi Việt Nam cùng “tìm cách gây áp lực, gia tăng sức ép... đối với Bắc Kinh để buộc họ tuân thủ Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, và thách thức các hành vi bắt nạt và yêu sách hàng hải quá mức của Trung Quốc”. Ngoài vấn đề Biển Đông, Hoa Kỳ sẵn sàng tăng cường giúp đỡ Việt Nam về mặt quốc phòng, chống đại dịch Covid-19, mà bằng chứng cụ thể nhất thể hiện cho thiện chí của Mỹ là viện trợ ngay cho Việt Nam trong vòng 24 giờ một triệu liều vac-xin Moderna. Tóm lại, Washington muốn nâng cấp quan hệ với Hà Nội, từ “đối tác toàn diện” lên “đối tác chiến lược”. Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam muốn như thế nhưng dè chừng Bắc Kinh tức giận. Đâu là những lợi ích và trở ngại cho Việt Nam nếu thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường Sư phạm Lyon (ENS), Pháp. ***** RFI : Nâng cấp quan hệ “đối tác toàn diện” lên thành “đối tác chiến lược” với Hoa Kỳ có thể mang lại những lợi ích gì cho Việt Nam ? Đâu là những trở ngại chính trị và quân sự có thể tác động đến việc nâng cấp này ? Laurent Gédéon : Việt Nam đã ký quan hệ đối tác chiến lược với Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh Quốc, Đức, Pháp. Vì thế cần phải xem là Việt Nam tìm kiếm gì khi ký kết một thỏa thuận đối tác chiến lược ? Tôi nghĩ là theo quan điểm của Hà Nội, quan hệ đối tác chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt, thứ nhất là cho an ninh, vì thỏa thuận giúp tăng cường cho ngoại giao và quốc phòng của Việt Nam, tiếp theo là cho kinh tế, vì một quan hệ đối tác chiến lược góp phần cho sự phát triển của đất nước, và cho ngoại giao, vì một thỏa thuận như vậy giúp Hà Nội có được sự ủng hộ khi cần về chính sách đối ngoại. Từ những điểm này, nếu nhìn vào trường hợp Hoa Kỳ, có thể thấy đúng là quan hệ giữa hai nước có thể sẽ được thắt chặt hơn, nhưng cũng có thể đặt ra một số trở ngại, dù phía Hoa Kỳ đưa ra yêu cầu mạnh mẽ. Trở ngại đầu tiên liên quan đến chính sách đối nội của Việt Nam. Có thể nói tóm lược rằng trong đảng Cộng Sản Việt Nam có nhiều khuynh hướng khác nhau, như khuynh hướng “thân Trung Quốc” ,hay ít nhiều “ngả về phía Hoa Kỳ”, mà không bên nào chịu thua bên nào. Ngoài ra còn có một số khuynh hướng khác, được thể hiện qua nhiều cấp độ quan điểm khác nhau trong chính sách của Việt Nam, với kết quả có thể thấy được mà chúng ta biết hiện nay. Dù các nhà lãnh đạo Việt Nam nhất trí không để mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng họ lại bất đồng về cách hành động. Một số người thiên về việc tăng cường xích lại gần Hoa Kỳ. Một số khác từ chối. Vì thế, có thể thấy cản trở đầu tiên để tiến tới quan hệ chiến lược này là chính sách đối nội và sự mất cân bằng chính trị nội bộ của Việt Nam. Rào cản tiếp theo mang tính quân sự, liên quan đến việc từ lâu Việt Nam vẫn sử dụng vũ khí của Nga. Một phần lớn hệ thống vũ khí của  Việt Nam là do Liên Xô hoặc Nga sản xuất. Việt Nam bị phụ thuộc nhiều vào thiết bị quân sự của Nga, đến 80%. Điều này đặt ra vấn đề tương thích vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất vào hệ thống hiện có. Ngoài ra, phải kể thêm một vấn đề pháp lý liên quan đến Đạo luật Chống lại đối thủ của Mỹ thông qua trừng phạt (Countering America’s Adversaries Through Sanctions Act, CAATSA) nhằm trừng phạt những nước mua vũ khí Nga. Đây là một khó khăn dù có thể giải quyết được về mặt ngoại giao, nhưng vẫn là một vấn đề cần được nêu. Trở ngại thứ ba đối với Việt Nam là mức độ tin cậy vào Washington, mà có thể thấy qua những sự kiện gần đây, ví dụ cam kết chiến lược của Mỹ bị suy yếu dưới thời tổng thống Trump. Dù chính quyền Biden đã đổi hướng, nhưng dù sao đây vẫn là một tiền lệ khó có thể khiến các nước muốn xích lại gần Washington cảm thấy yên tâm. RFI : Ngoài ra còn có những trở ngại nào khác ? Laurent Gédéon : Có thể kể đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, không quá quan trọng hoặc không được nhắc nhiều dưới thời tổng thống Trump, nhưng lại là vấn đề nhạy cảm đối với chính quyền Biden và từng là một điểm trong chiến dịch tranh cử của ông. Tiếp theo là những bất trắc về khả năng Hoa Kỳ gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTTP, thỏa thuận thay thế cho Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương - TPP. Hiện chưa rõ là Mỹ sẽ tham gia hiệp định chung này, hay sẽ phát triển một hiệp định song phương khác với Việt Nam. Khúc mắc cuối cùng về Hoa Kỳ của Hà Nội là trường hợp Afghanistan, nơi quân đội Mỹ can thiệp sâu rộng và giờ rút lui. Điều này xảy ra trong bối cảnh địa-chính trị trong vùng rất bất ổn, có thể dẫn tới xung đột và khiến tôi nghĩ đến sự ổn định chiến lược địa-chính trị của Đài Loan hiện nay, đến hiệu ứng domino từ một cuộc khủng hoảng ở Đài Loan đến Biển Đông, đến việc phương Tây gia tăng sức ép ở trong vùng thông qua việc hải quân Anh, Pháp, Úc và dĩ nhiên là Hoa Kỳ tăng cường hiện diện ở Biển Đông, ở eo biển Đài Loan, cũng như ở nhiều khu vực khác trong vùng. Để kết luận về khả năng Việt Nam bước vào quan hệ hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ, có thể nói là Hà Nội sẽ được lợi, chắc chắn là về mặt an ninh quân sự, nhưng cũng có nguy cơ bị mất quyền tự chủ chiến lược. Vì thế có thể nhận thấy là phía Việt Nam thận trọng trong kiểu thỏa thuận như vậy. RFI : Trong trường hợp Việt Nam kí quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ, việc này có vi phạm nguyên tắc “Bốn Không” của Việt Nam không ? Laurent Gédéon : Đúng là Sách Trắng Quốc Phòng gần đây nhất của Việt Nam năm 2019 nêu nguyên tắc “Bốn Không”. Tôi xin nhắc lại, đó là “không tham gia liên minh quân sự ; không liên kết với nước này để chống nước kia ; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác” và điểm “Không” thứ tư, được thêm vào “Ba Không” truyền thống, đó là “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Đúng là nguyên tắc “Bốn Không” có vẻ ngăn cản Hà Nội trở thành một bên tham gia vào một cuộc xung đột, ngoại trừ một vụ tấn công trực tiếp vào lãnh thổ Việt Nam. Nhưng trong Sách Trắng Quốc Phòng 2019 cũng có một cảnh báo : “Tùy vào diễn biến tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết và tương ứng với các nước khác”, dù có nguồn gốc chính trị là gì và mức độ phát triển ra sao. Có thể thấy là lần đầu tiên Việt Nam tạo điều kiện cho việc diễn giải nguyên tắc “Bốn Không”. Và điều này có thể mở đường cho khả năng thắt chặt hợp tác quân sự với Hoa Kỳ. Việt Nam cũng rất lưu ý đến việc lần đầu tiên cùng với Hàn Quốc, New Zealand được mời tham gia hội nghị QUAD+ vào tháng 03/2020 tập trung vào đại dịch Covid-19. Đáng chú ý ở chỗ Việt Nam đều có mối quan hệ vững chắc với các nước Bộ Tứ - QUAD gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Úc. Đặc biệt Việt Nam có quan hệ chiến lược với ba trong số bốn nước này, trừ Mỹ. Ở đây cần tìm hiểu là liệu Hà Nội có tiếp cận những nước này, một cách gián tiếp thông qua những cơ chế hợp tác quốc tế chứ không phải là trực tiếp qua những cơ chế quân sự. Trong khi trên thực tế những cơ chế hợp tác quốc tế này lại giúp Việt Nam tham gia vào các cấu trúc liên minh quân sự không chính thức, dù có vẻ đi ngược lại phần nào với nguyên tắc “Bốn Không”. Dường như đây là cách tiếp cận có chủ ý của chính quyền Việt Nam. Ngoài ra, cần biết rằng trong một cuộc thăm dò ý kiến cuối năm 2019 của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), đa số người dân Việt Nam được hỏi ý kiến đều coi Bộ Tứ - QUAD là khung thể chế quan trọng nhất trong vùng, hơn cả ASEAN. Đây là một chỉ số đáng chú ý về khả năng Hà Nội tham gia vào các kiểu liên minh dù không mang tên chính thức như vậy, bất chấp những gì ghi trong Sách Trắng, hay nguyên tắc “Bốn Không”. RFI : Mỹ đã ký bao nhiêu quan hệ đối tác chiến lược ở châu Á và khác gì với liên minh với Philippines ? Laurent Gédéon : Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận quan hệ đối tác chiến lược quan trọng trong vùng. Tôi xin nhắc một vài thỏa thuận như với Ấn Độ, tập trung vào khả năng răn đe và bảo vệ lợi ích chung cũng như về chống đại dịch và biến đổi khí hậu ; với Indonesia tập trung chủ yếu vào kinh tế và giữ gìn trật tự quốc tế theo các quy định đã có ở Ấn Độ-Thái Bình Dương ; với Singapore trong đó có một mảng hợp tác quân sự đáng chú ý, với việc một đơn vị hải quân Mỹ hiện diện ở một cảng của nước này. Ngoài ra, còn phải kể đến thỏa thuận chiến lược tổng thể hơn với ASEAN về y tế công cộng, khả năng kết nối, hợp tác kinh tế và hợp tác hàng hải về mặt môi trường. Nhưng điều mà chúng ta nhận thấy là những quan hệ đối tác chiến lược này không phải là những hiệp ước liên minh quân sự, nhưng có những mảng quân sự ít nhiều quan trọng. Đối với những nước rất gần gũi với Hoa Kỳ thì Washington thiết lập liên minh quân sự, chứ không phải là đối tác chiến lược, như với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippines. Trong trường hợp ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, Washington có lực lượng quân đội thường trực hoặc tạm thời.   Riêng trường hợp Philippines, Hoa Kỳ có Thỏa thuận Thăm viếng quân sự (Visiting Forces Agreement, VFA), một phiên bản của Hiệp ước phòng thủ chung được Washington và Manila ký năm 1951. Thỏa thuận VFA hiện nay quy định sự hiện diện của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Philippines trong những dịp tập trận, huấn luyện chung, chiến hạm cập cảng, hay bất kỳ hoạt động nào giữa quân đội hai nước. Thỏa thuận Thăm viếng quân sự VFA này đã được tổng thống Rodrigo Duterte tái khẳng định triển hạn hôm 30/07/2021, trong khi Hoa Kỳ vẫn nhắc lại là tiếp tục bảo vệ Phillipines trong trường hợp nước này bị tấn công vũ trang ở Biển Đông. VFA giữa Mỹ-Philippines là một thỏa thuận quân sự, trái với quan hệ đối tác chiến lược. Tuy nhiên, tùy theo ý muốn và chiến lược của hai bên, ví dụ trong trường hợp của Việt Nam và Mỹ, có thể sẽ có một vế quân sự được điều chỉnh để đáp ứng những quan ngại chiến lược của mỗi bên. Nhưng phải nhắc lại là quan hệ đối tác chiến lược không phải là một liên minh quân sự như trường hợp của Mỹ và Phillippines. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, trường Sư phạm Lyon (Ecole Normale supérieure de Lyon) tại Pháp. ***** Đọc thêm : Phần 1 : Phó tổng thống Mỹ đến Việt Nam tìm thêm đối tác kiềm chế Trung Quốc
    9/20/2021
    9:19

Über TẠP CHÍ VIỆT NAM

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ VIỆT NAM, TẠP CHÍ ÂM NHẠC und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.at-App

TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Zugehörige Podcasts

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Zugehörige Sender

Information

Wegen Einschränkungen Ihres Browsers ist dieser Sender auf unserer Website leider nicht direkt abspielbar.

Sie können den Sender alternativ hier im radio.at Popup-Player abspielen.

Radio