Radio Logo
RND
Höre {param} in der App.
Höre TẠP CHÍ XÃ HỘI in der App.
(7.565)(6.472)
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
Sender speichern
Wecker
Sleeptimer
StartseitePodcasts
TẠP CHÍ XÃ HỘI

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Podcast TẠP CHÍ XÃ HỘI
Podcast TẠP CHÍ XÃ HỘI

TẠP CHÍ XÃ HỘI

hinzufügen

Verfügbare Folgen

5 von 24
  • Tạp chí xã hội - Pháp - 30 năm huy hoàng xây dựng lại sau Thế chiến thứ 2
    « 30 năm huy hoàng » là tên gọi mà nhà kinh tế Jean Fourastié sau này dùng để chỉ giai đoạn 30 năm khôi phục kinh tế xã hội sau Thế chiến thứ 2 tại Pháp. Tuy ngày nay, việc đánh giá của giới chuyên môn về giá trị của giai đoạn này có nhiều chừng mực, thậm chí có những lời phê phán mạnh hơn, thì cái tên ấy vẫn gợi một hoài niệm tích cực, tự hào về giai đoạn lịch sử nhiều dấu ấn của thế kỷ XX.  Một hình ảnh tiêu biểu không thể tách rời với 3 thập niên phát triển rực rỡ này là sự ra đời của những chung cư cao tầng. Đó là hiện thân của tốc độ đô thị hoá tăng vọt, của tiến bộ về công nghệ, công nghiệp hoá xây dựng và sự áp dụng các lý thuyết quy hoạch hiện đại. RFI tiếng Việt phỏng vấn kiến trúc sư quy hoạch Bùi Uyên, tại Paris.    RFI : Sau khi Thế chiến thứ 2 kết thúc, nước Pháp bị tàn phá nặng nề, thực trạng và đòi hỏi xây dựng lại các đô thị ở Pháp giai đoạn này ra sao ? Được tiến hành với hình thức nào ? KTS Bùi Uyên : Tại Pháp, Thế chiến thứ nhất gây tổn thất nặng nề về số binh linh thiệt mạng trên mặt trận, nhưng đến Thế chiến thứ 2, sự tàn phá lại lan rộng trên nhiều địa phương. Hàng loạt các thành phố miền bắc nước Pháp gần như bị san phẳng, còn lại trên cả nước, địa phương nào cũng ít nhiều phải xây dựng lại. Sau Đệ nhất thế chiến, nếu số toà nhà bị sụp đổ ước chừng hơn 600 ngàn và tập trung ở một số vùng nông thôn, thì con số này đã tăng gấp 3 sau Thế chiến thứ 2 (1 triệu 900 ngàn), chưa kể hàng trăm ngàn toà nhà nhà máy xí nghiệp (1). Đứng trước quy mô quá lớn và tính cấp bách của việc tái thiết, việc nhà nước nắm giữ toàn bộ vai trò điều phối, quản lý việc xây dựng đô thị đã trở thành lựa chọn tất yếu để có thể tập trung nguồn lực và gấp rút tiến hành công cuộc tái thiết. Những thành phố bị thiệt hại nặng nề nhất phải kể đến các cảng biển miền Bắc như Le Havre, Dunkerque, Brest, Saint-Nazaire, Caen, Nantes, Saint Malo - những nơi gần như đã bị san phẳng hoàn toàn. Ngay trước khi chiến tranh kết thúc, từ năm 1943, chính quyền Vichy đã lên kế hoạch xây dựng lại các đô thị bị thiệt hại nặng nhất. Lần lượt các kiến trúc sư tài giỏi nhất được giao phó trọng trách xây dựng lại các thành phố. Jean-Baptiste Mathon và Noël Le Maresquier - hai kiến trúc sư đạt giả Khôi nguyên La Mã (Grand prix de Rome) được giao xây dựng lại thành phố Brest và Saint Nazaire (2). Năm 1944, chính phủ lâm thời Pháp thành lập bộ Tái thiết và Quy hoạch, đứng đầu là kỹ sư Raoul Dautry. Liền sau đó, các thành phố khác lần lượt được giao cho các nhóm kiến trúc sư xây dựng lại.     Ưu thế của việc tập trung xây dựng lại dựa trên đánh giá thiệt hại là sự bình đẳng giữa các đô thị có quy mô và tầm quan trọng khác nhau. Kế hoạch hoá do nhà nước quản lý giúp nhà ở xã hội được phân phối dễ dàng, chủ động hơn, tránh việc đầu cơ và đẩy giá bất động sản.   RFI : Cụ thể việc tái thiết đô thị này có gì tiến bộ hơn so với trước chiến tranh ? KTS Bùi Uyên : Trong thời gian đầu, việc xây dựng lại vẫn mang tư duy khôi phục, nên các địa phương tập trung vào xây lại từng khu phố, dãy nhà. Ở các khu trung tâm, hình thức kiến trúc phần lớn lấy lại những phong cách, tỉ lệ, đường nét đặc trưng xây dựng trước chiến tranh. Tại các thị tứ nhỏ, thậm chí nhiều công trình được xây lại hoàn toàn theo hình thức ban đầu, dù vật liệu và quy trình xây dựng là theo kỹ thuật mới. Để tiện cho việc xây nhanh và tập trung, các thửa đất nhỏ nhà liền kề, biệt thự mặt phố được gộp lại thành từng lô đất lớn để xây dựng những khu nhà chung cư thấp tầng. Dù đặt mục tiêu khẩn cấp, nhưng tốc độ xây dựng nhà ở những năm đầu sau Đệ nhị Thế chiến còn rất chậm (30 ngàn nhà được xây mới vào năm 1949). Xây dựng chỉ thực sự tăng tốc vào năm 1953, với 130 ngàn nhà xây mới. Phải nhờ vào sự công nghiệp hoá xây dựng, những cải tiến tối ưu trên công trường và quản lý thì đến những năm 1970 tốc độ mới đạt tới 500 ngàn nhà xây mới mỗi năm (3). Để tăng tốc, chính phủ, chủ yếu là bộ Tái thiết và Quy hoạch, đã phải đề ra nhiều biện pháp thúc đẩy cụ thể. Bộ lên các chương trình và tổ chức liên tục các « công trường thí điểm », chọn các công ty xây dựng sử dụng các công nghệ, vật liệu mới, chủ yếu là cấu kiện xây dựng tiền chế, lắp ghép, sản xuất hàng loạt … RFI : Nhưng khi xây dựng nhanh hàng loạt, theo kiểu công nghiệp hoá, thì yếu tố thẩm mỹ có phần bị xem nhẹ ? KTS Bùi Uyên : Trên diện rộng, việc xây dựng dần dần được công nghiệp hoá, tự động và chuẩn hoá theo các mô-đun tiền chế. Để giảm thời gian và phương tiện vận chuyển trọng tải lớn, cấu kiện bê tông cốt thép được sản xuất tại các nhà máy dựng lên ngay chân công trường. Tiêu chí xây dựng nhanh, số lượng lớn với chi phí giới hạn được đặt lên hàng đầu, dẫn đến hình thành những toà nhà bê tông lắp ghép cao tầng, phát triển theo tuyến dài, ít có sự đa dạng về hình khối. Trong nhiều trường hợp, độ dài và tầng cao các khối nhà phụ thuộc vào khả năng thao tác tối đa của thiết bị kỹ thuật như cần cẩu, ray trượt ... (4) Tuy vậy, trái với ấn tượng về sự đơn điệu hình khối, quan sát đi vào chi tiết, có thể nhận thấy không ít sự tìm tòi trong lựa chọn vật liệu địa phương, chi tiết trang trí, phối hợp màu sắc ... để tránh sự đứt gãy với cảnh quan địa phương. Ví dụ tiêu biểu là những thiết kế của Fernand Pouillon tại nhiều thành phố lớn. Ông nổi tiếng với việc xây dựng 200 nhà ở xã hội tại Marseille với tuyên bố « 200 căn hộ trong 200 ngày giá 200 triệu franc (30 triệu euro) ». Với chi phí và thời gian xây dựng hạn hẹp, những công trình do ông thiết kế vẫn có giá trị kiến trúc với những tìm tòi về tỉ lệ và mảng khối, kết hợp vật liệu địa phương và kỹ thuật hiện đại : tường bao bằng chất liệu đá khối sản xuất công nghiệp hoá, ốp gạch men màu trên tầng áp mái, sử dụng ngói ống đất nung địa phương, kết hợp kính, gỗ cho hệ cửa và vòm mái kết cấu kim loại. Ngoài ra, cảnh quan vườn và các vòi phun nước cũng được thiết kế bởi các nghệ sỹ điêu khắc. (5) Việc xây dựng lại thành phố cảng Le Havre được giao cho kiến trúc sư Auguste Perret chủ trì, cũng là nơi quy tụ những thiết kế đa dạng mang phong cách hiện đại và với kỹ thuật xây dựng bê tông cốt thép tiền chế tiên tiến thời bấy giờ. Vào năm 2005, kiến trúc hiện đại tổng thể thành phố được xếp hạng Di sản Thế giới của Unesco.     RFI : Về Le Havre, như kiến trúc sư đã nói ở trên, kiến trúc của cả thành phố được vinh danh. Vậy vai trò của quy hoạch có đóng góp gì không ? Việc quy hoạch các đô thị được xây dựng lại có đổi mới gì đáng kể không ? KTS Bùi Uyên : Dù mục tiêu hàng đầu là đáp ứng nhu cầu nhà ở gấp rút, những nhà quản lý và giới chuyên môn nhìn nhận công cuộc tái thiết như cơ hội đặc biệt để áp dụng những lý thuyết quy hoạch và nguyên tắc thiết kế theo trường phái Hiện đại, hình thành từ những thập niên 20-30 của thế kỷ XX, được tuyên bố trong Hiến chương Athens (1933). Những mối quan tâm đến tiện nghi và chất lượng sống của cư dân được tính đến : chiếu sáng, vệ sinh, thông gió, không gian xanh ... Dù là những tiện nghi tối thiểu, việc thiết kế những căn hộ thông thoáng, có phòng tắm, vệ sinh riêng trở thành tiện nghi cơ bản cho mọi tầng lớp, là một bước tiến lớn về chất lượng sống tại thời điểm đó. Cũng theo lý thuyết này, các khu đô thị được thiết kế theo phân vùng chức năng : khu vực sống, làm việc, giải trí và giao thông. Cùng với việc khai thác sử dụng năng lượng hoá thạch phát triển, bố cục không gian đô thị được thiết kế để thuận tiện trong việc tiếp cận giao thông cơ giới. Những thiết kế không gian công cộng đóng vai trò quan trọng.  RFI : Sang đến những năm 50-60, nền kinh tế đã phục hồi và lối sống tiêu thụ phát triển mạnh mẽ. Mục đích xây dựng mới chuyển sang phục vụ nhu cầu nhà ở của tầng lớp công nhân, đặc biệt là những lao động phổ thông, công nhân đến từ các nước thuộc địa cũ, để bù đắp nguồn nhân lực khan hiếm. Một hiện tượng nữa là sự « bùng nổ dân số » - baby boom, tạo thêm áp lực cho quỹ nhà, đặt ra nhu cầu về nhà ở rộng rãi và chất lượng hơn. Vậy thì ở giai đoạn sau của « 30 năm huy hoàng » này, chiến lược quy hoạch đô thị có gì thay đổi để thích ứng ? KTS Bùi Uyên : Chính quyền Pháp dần đặt trọng tâm vào tầm nhìn đô thị tương lai. Xây dựng không chỉ để giải quyết nhu cầu cấp bách, mà còn là để định hướng phát triển cho đô thị trong những thập niên tăng trưởng mạnh tiếp theo. Những phương châm quy hoạch theo lý thuyết đô thị hiện đại trở thành định hướng chung cho quy hoạch đô thị mới trong cả nước. Nhà lãnh đạo nhận thức tầm nhìn vĩ mô này từ rất sớm là Eugène Claudius-Petit, khi lên đảm nhiệm vai trò bộ trưởng bộ Tái thiết và Quy hoạch năm 1948. Trong cuốn sách « Cho một bản đồ quy hoạch chung », ông trình bày các ý tưởng về cân đối lại các hoạt động kinh tế, nghiên cứu các vấn đề đô thị trên quy mô tổng thể, khuyến khích phát triển giao thông công cộng ... Tuy vậy, dự thảo luật của ông về trưng thu đất đai để tạo điều kiện cho những quy hoạch vĩ mô gặp phải nhiều sự phản đối, bị hoãn nhiều lần và cuối cùng không được thông qua. (1) Với những điều kiện hội tụ đó, giai đoạn những năm 60-70 đánh dấu sự ra đời của các đô thị mới - đô thị vệ tinh, đặc biệt xung quanh vành đai các đô thị lớn như Paris, Lyon, Marseille … trên nền các khu phố ngoại vi quá đổ nát, hoặc tại các đô thị cần mở rộng xây mới. Các khu đô thị này áp dụng ít nhiều các nguyên tắc thiết kế và quy hoạch hiện đại thời bấy giờ : nhà ở cao tầng tập thể dạng chung cư tháp cao hoặc dãy trải dài hàng trăm mét, chủ yếu là nhà ở xã hội, nhà cho thuê cho người lao động. Về cấu trúc không gian, tầng trệt dành cho các khu vực dịch vụ, thương mại, khu vực để xe hoặc trống tầng trồng cây xanh. Ở nhiều nơi, các không gian công cộng của cư dân diễn ra trên phần mái bê tông trải dài, kết nối với các sảnh toà nhà. Khu trung tâm hành chính Défense là một ví dụ điển hình thành công của thiết kế này. Nhờ phát triển theo chiều cao, nên diện tích chiếm đất của các toà nhà được giảm bớt, có thêm đất trồng cây xanh, xây dựng mạng lưới đường giao thông cơ giới.Tuy không đạt đến mức « cách mạng chủ nghĩa hiện đại » như mong đợi của giới chuyên môn, nhưng chung cư cao tầng và các đô thị mới đã tạo một dấu ấn, trở thành hình ảnh không thể tách rời của thời kỳ 30 năm huy hoàng xây dựng lại sau chiến tranh. Chính sách xây dựng các ZUP - vùng đô thị hoá ưu tiên - ra đời cuối thập niên 50, là hình thức xây dựng tập trung số lượng lớn hàng ngàn nhà ở trong cùng 1 khu vực. Trong 1 thập kỷ, với gần 200 dự án, 800 ngàn nhà ở đã được xây dựng phục vụ 2,2 triệu dân, dưới hình thức những khu chung cư cao tầng lắp ghép.  RFI : Nhưng sau này, các chung cư cao tầng ngoại ô hay được coi là khu vực ẩn chứa nhiều vấn đề xã hội, trở thành bài toán cần cải tổ trong các dự án đô thị ngay từ thập niên 90 của thế kỷ trước. Những lý thuyết quy hoạch đô thị phân khu chức năng bị chỉ trích, đánh giá như một sai lầm. Vì sao lại có sự đảo ngược đó ? KTS Bùi Uyên : Đến nửa cuối thập niên 70, khủng hoảng kinh tế làm lộ rõ những mặt hạn chế của mô hình khu đô thị tập trung cao tầng này. Ví dụ chính quy mô quá lớn của các ZUP đã bị chỉ trích nhiều : những khu ở quá lớn, đơn điệu, không gần gũi với người dân. Chính sách này bị xoá bỏ vào năm 1967, sau chưa đầy 1 thập kỷ ứng dụng. (3) Một lý do nữa, là với lý do thiếu chi phí và mục tiêu sản xuất nhà ở đặt lên hàng đầu, trong nhiều trường hợp, các lý thuyết đô thị hiện đại được đem vào áp dụng nửa vời. Nhiều khu đô thị không thực hiện đầy đủ các tiện ích công cộng như trường học, không gian văn hoá. Một cách khách quan, những bất cập về tỉ lệ thất nghiệp, chất lượng nhà ở xuống cấp, thiếu đa dạng các hoạt động đô thị, bất ổn tăng cao, một phần không nhỏ chịu ảnh hưởng từ các chính sách xã hội và chuyển biến nền kinh tế phi công nghiệp giai đoạn cuối 30 năm Tái thiết. Nhưng vì thế, từ một biểu tượng gắn liền với hiện đại hoá, thịnh vượng và phục hồi sau chiến tranh trong 3 thập niên tươi sáng của nước Pháp, chung cư cao tầng xây dựng trong thời kỳ này trở thành một hình ảnh bị chối bỏ, phản cảm, và dần bị thay thế trong bức tranh đô thị hiện đại.  Dù vậy, kiến trúc thời kỳ Tái thiết vẫn để lại những di sản có giá trị đến ngày nay. Hơn thế nữa, 30 năm sau Thế chiến đã đặt nền móng cho nền quy hoạch hiện đại Pháp. Rút nhiều bài học từ những kinh nghiệm giai đoạn này, ngày nay, các tư duy quy hoạch vẫn tiếp tục được đắp bồi và đổi mới không ngừng, thích ứng với những đòi hỏi mới của từng giai đoạn phát triển của xã hội.      RFI tiếng Việt chân thành cảm ơn KTS. Bùi Uyên !   (1) Bertrand Vayssière. RELEVER LA FRANCE DANS LES APRÈS-GUERRES : RECONSTRUCTION OU RÉAMÉNAGEMENT ?. Guerres mondiales et conflits contemporains, Presses Universitaires de France, 2009, 10 (236), pp.45-60. ffhal-00748603f    (2) L’évolution récente de différents quartiers issus de la Reconstruction – une étude comparative – rapport réalisé par Cerema, Direction territoriale Nord-Picardie (2016) (3)  Gwenaëlle Legoullon. LES GRANDS CHANTIERS DE CONSTRUCTION DE LOGEMENTS AU DÉBUT DES TRENTE GLORIEUSES EN FRANCE.. 2013. ffhalshs-01202254f (4)- Voldman Danièle, Conférence « L’architecture de la reconstruction et dé 30 glorieuses », cours public 2008, www.citéarchitecture.fr (5) Immeubles Pouillon - https://tourisme-marseille.com/fiche/immeubles-fernand-pouillon-marseille/
    11/26/2021
    11:13
  • Tạp chí xã hội - Hàn Quốc - một bức tranh du lịch đầy màu sắc
    “Mở mắt thấy đồi, mở nồi thấy kim chi” hay “địa ngục Choson” là những câu truyền miệng của người lao động nhập cư hoặc của chính người dân Hàn Quốc để thể hiện sự khó khăn khi sống và làm việc tại quốc gia này. Đối lập với hình ảnh đó, du lịch đến xứ sở kim chi lại tăng trưởng thần tốc qua các năm và luôn được yêu thích bởi mọi lứa tuổi và quốc gia. Để có được sức tăng trưởng vượt bậc so với các quốc gia khác ở châu Á, Hàn Quốc đã phải bỏ ra rất nhiều công sức, từ marketing đến phát triển thị trường và hơn thế nữa là tập trung vào việc phát triển bền vững để du khách một đi muốn trở lại nhiều lần. Hành trình trở thành cường quốc công nghiệp không khói Trước khi được biết đến như một địa điểm du lịch hứa hẹn cho tất cả mọi người, từ những người cao tuổi đến những người trẻ tuổi, Hàn Quốc chỉ đón 10.000 khách du lịch vào những năm 1960, theo KBS. Tuy nhiên, con số khiêm tốn đó đã thay đổi, số khách du lịch đến Hàn Quốc liên tục tăng kể từ năm 1961 - năm được chỉ định là “Năm du lịch Hàn Quốc”. Không thể phủ nhận rằng số ngoại tệ thu được từ ngành du lịch đã một phần giúp xây dựng đất nước Hàn Quốc từ hoang tàn sau nội chiến liên Triều. Để có được thành công trong quảng bá du lịch, marketing đã đóng góp một vai trò rất lớn. Bằng cách xếp hạng rất nhiều thắng cảnh địa phương, như núi Chirisan (지리산), hay công viên núi lửa Hallasan (한라산) thành các công viên quốc gia vào khoảng những năm 1970, điều này không những giúp tăng trưởng thị phần du lịch tại các tỉnh lẻ mà còn giúp bảo tồn thiên nhiên hoang sơ vô giá tại những khu vực này. Bên cạnh đó, là nước đăng cai hàng loạt sự kiện thể thao quy mô thế giới như Olympic mùa hè 1988, World Cup 2002 và rất nhiều sự kiện thể thao có quy mô khu vực khác, Hàn Quốc đã chủ trương tổ chức một phần sự kiện tại các địa phương. Điều này gián tiếp giới thiệu phong cảnh thiên nhiên, con người Hàn ra toàn thế giới. Tuy nhiên, nếu chỉ có như vậy, có thể khách du lịch sẽ chỉ đến Hàn Quốc một lần và khó có thể trở lại lần thứ 2. Hiểu rõ được nguy cơ này, Hàn Quốc đã đầu tư rất nhiều vào các sản phẩm dịch vụ, làm đẹp, mĩ phẩm, các sản phẩm thời trang hiện đại và mẫu mã được đổi mới liên tục. Chính điều này đã làm cho số lượng lớn khách du lịch quyết tâm phải quay trở lại Hàn Quốc nhiều lần sau đó. Du lịch mua sắm Còn gì tuyệt vời hơn khi chỉ đến với Hàn Quốc là đã được đắm chìm trong hàng loạt trung tâm mua sắm từ hiện đại như Lotte, Huyndai đến truyền thống như chợ sâm Kumsan, chợ thuốc Namdemun. Ngoài ra, đối với các tín đồ mỹ phẩm, con đường Myeodong là một trong những địa điểm buộc phải check-in nếu muốn chứng minh là đã tới Hàn Quốc. Với chính sách bán hàng hoàn thuế cho khách ngoại quốc có visa du lịch, rất nhiều người đã đến Hàn Quốc chỉ để mua hàng miễn thuế và nhiều khi tiền hoàn thuế với tất cả món hàng họ mua còn cao hơn cả chi phí tour du lịch. Chính sách hoàn thuế đa dạng và nhanh gọn từ hoàn thuế ngay tại cửa hàng, hoàn thuế tự động tại sân bay đã khiến cho những người nghiện mua sắm điên đảo khi đến đất nước này. Và chị Hạnh, một “tín đồ mua sắm”, không phải là trường hợp ngoại lệ : “Cá nhân tôi, tôi bị hấp dẫn bởi hai nhóm sản phẩm là mỹ phẩm và thực phẩm chức năng của Hàn Quốc. Tôi sẽ không chỉ đến Hàn Quốc một lần mà sẽ còn đến nhiều lần chỉ để mua những thứ đó. Ví dụ về mỹ phẩm, tôi đã từng nghĩ phải có rất nhiều tiền để mua được món đồ hợp lý, nhưng khi sang Hàn, mới thấy rằng kể cả với số tiền ít thì vẫn có thể mua đươc những món hàng hợp với da của mình. Đặc biệt là con đường mua sắm Myeodong - hàng hóa được sắp xếp cực kỳ bắt mắt. Và một điểm đặc biệt nữa là những nhân viên bán hàng thực sự là những nhân viên cực kỳ xuất sắc. Họ biết được túi tiền của mình, họ khen mình và đưa ra những món sản phẩm hợp lý. Và đặc biệt là tâm lý bầy đàn, khi mà những người đi cùng mình mua thì mình cũng sẽ mua, tuy nhiên khi về đến nhà thì vẫn thấy thiếu và lại mong muốn được quay lại Hàn để mua tiếp”. Du lịch thẩm mĩ Bên cạnh việc là một thiên đường mĩ phẩm của châu Á, Hàn Quốc gần đây còn nổi lên như là một nơi đầy hứa hẹn cho những bạn trẻ muốn lột xác để trở thành một người có ngoại hình bắt mắt bằng phương pháp phẫu thuật thẩm mĩ. Hàng loạt công ty du lịch ở Trung Quốc, Việt Nam hay Cam Bốt đã liên kết với các bệnh viện phẫu thuật thẩm mĩ nổi tiếng của Hàn Quốc. Với mối quan hệ "win-win" (đôi bên cùng có lợi), khách hàng có nhu cầu được các công ty kết nối với bệnh viện tại Hàn, sau đó được du lịch sang Hàn Quốc để thăm khám và nhận tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ có kinh nghiệm trong lĩnh vực phẫu thuật thẩm mĩ hay phẫu thuật tạo hình. Sau khi thăm khám xong, khách du lịch sẽ được đưa đi một vòng thăm quan các danh thắng nổi tiếng tại Hàn để họ có thời gian suy nghĩ và quyết định có trở lại Hàn Quốc lần nữa để bước vào cuộc phẫu thuật kéo dài nhiều giờ và mất nhiều tháng để khôi phục lại sức khỏe hay không. Điệp, một bạn gái từng sang Hàn Quốc để phẫu thuật thẩm mĩ, cho biết: “Em chọn phẫu thuật thẩm mĩ ở Hàn Quốc là do tin tưởng kinh nghiệm và chuyên môn của các bác sĩ Hàn. Ở Hàn Quốc, em được tư vấn rất kỹ, ví dụ khi em phẫu thuật mũi, các bác sĩ tư vấn cho em là đi dáng mũi như thế nào cho hài hòa với gương mặt, chứ không có chạy theo thị hiếu như là dáng mũi phải cao như tây, làm quá như vậy thì bác sĩ cũng nói là nó sẽ làm mất dáng mũi của con người mình”. Du lịch theo trào lưu Hanryu Một yếu tố quyết định đến sự phát triển của du lịch Hàn Quốc đó là làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hàn lưu - Hanryu - 한류). Các bộ phim như Bản tình ca mùa đông, Vườn sao băng, Thế hệ Itaewon hay bộ phim Vì sao đưa anh tới đã được quay tại các địa điểm du lịch nổi tiếng như đảo Nami, Jeju, phố Hongdae hay làng văn hóa Pháp. Những hình ảnh đầy màu sắc, không tì vết kèm theo những dấu ấn không thể phai mờ của bộ phim đã in sâu vào lòng khán giả một Hàn Quốc xinh đẹp, quyến rũ trong mùa xuân, mạnh mẽ trong mùa hè, đượm buồn trong mùa thu và trắng xóa trong mùa đông lạnh. Gần đây nhất, bộ phim ăn khách của Netflix Squid game đã khéo léo lồng ghép và giới thiệu những trò chơi truyền thống của Hàn Quốc tới bạn bè quốc tế. Trào lưu “trò chơi con mực” diễn ra ở khắp mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là trên mạng xã hội, theo New York Times ngày 29/09/2021, hơn 14 tỉ video với hashtag “Squid game” đã được phát hành trên nền tảng video trực tuyến Tiktok, hay một bức tượng búp bê quản trò cao 3 mét trong trò chơi “đèn đỏ-đèn xanh” đã được trưng bày tại đại lộ Ortigas - Philippines. Với sức hút lớn như vậy, chắc chắn các fan của bộ phim này sẽ lên một kế hoạch chi tiết nhất để du lịch Hàn Quốc ngay sau khi đại dịch Covid-19 kết thúc. Tầm nhìn của chính phủ Hàn Quốc về du lịch trong và sau đại dịch Đại dịch Covid-19 ập tới gây ra những tác động vô cùng tiêu cực đến thị trường du lịch toàn cầu. Hàn Quốc là một trong số những quốc gia đầu tiên buộc phải đóng cửa với phần còn lại của thế giới vì lý do dịch bệnh lây lan với tốc độ nhanh và mất kiểm soát trên toàn quốc. Tuy nhiên, Hàn Quốc lại trở thành một điểm sáng và là tấm gương cho các quốc gia phát triển noi theo trong việc kiểm soát dịch bệnh. Cho tới hiện tại, với tỉ lệ tiêm chủng cao, lên tới 75,5% tổng số dân, Hàn Quốc đã quyết định ký các thỏa thuận “bong bóng du lịch” với một số quốc gia có tỉ lệ tiêm chủng cao như Singapore, và đảo Saipan. Với những thỏa thuận này, các du khách sẽ được miễn cách ly và du lịch tự do nếu họ có hộ chiếu vac-xin và kết quả xét nghiệm Covid-19 âm tính trong vòng 48 giờ trước khi khởi hành từ quốc gia xuất phát, và xét nghiệm PCR âm tính với Covid-19 sau khi nhập cảnh vào nước đến. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng đã có lộ trình miễn cách ly với tất cả khách du lịch có hộ chiếu vac-xin và kết quả xét nghiệm PCR âm tính từ cuối tháng 11 đến hết năm 2021. Để có được sự phát triển thần tốc và mạnh mẽ như ngày hôm nay, người dân Hàn Quốc đã phải đánh đổi rất nhiều thứ. Từ những năm 1970, trên truyền hình chỉ có hai chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn”. Những hành động nhỏ như nụ cười thế nào, chào đón khách ra làm sao đều có thể được tìm thấy trên tivi. Những sinh viên ưu tú nhất đã được gửi đi khắp nơi để học phương pháp làm phim, thời trang và du lịch để quay về xây dựng tổ quốc. Có lẽ tất cả những điều đó đã làm lên một Hàn Quốc đầy hứa hẹn, xinh đẹp và lộng lẫy trong mắt khách du lịch quốc tế.
    11/24/2021
    9:32
  • Tạp chí xã hội - Thái Lan : Vương quốc của nạn buôn người và ngược đãi lao động nước ngoài
    Thái Lan, vương quốc của những bãi biển đẹp đến mê hoặc lòng người, với những món ăn ngon, dồi dào tôm cá. Ngành xuất khẩu hải sản Thái Lan mỗi năm mang về cho đất nước hàng tỷ đô la. Nhưng đằng sau những nét đẹp có vẻ thanh bình đó là mồ hôi, là nước mắt, là máu và đôi khi cả tính mạng của những lao động di dân, những người đóng góp không nhỏ cho sự thịnh vượng của đất nước. « Tôi muốn về nhà. Mọi thứ chẳng có gì thay đổi. Chúng tôi làm việc như là nô lệ. Ai cũng bị mắc nợ hết, tôi thậm chí không hiểu vì sao tôi bị mắc nợ. Chúng tôi làm việc trên chiếc thuyền này từ 3-4 năm nay. Chúng tôi muốn đào thoát bằng đường biển. Nhưng chúng tôi quá mệt mỏi ! » Một lao động nước ngoài xin ẩn danh, làm việc trên một tầu đánh cá cho một hãng khai thác hải sản Thái Lan, có lời than thở như thế trong một phóng sự điều tra gây sốc có tiêu đề « Thailand’s Seafood Slaves » (tạm dịch là Nô lệ ngành hải sản Thái Lan), do Quỹ Công lý Môi trường (Environmental Justice Foundation – EJF ) thực hiện năm 2015. Cam Bốt, Lào, Miến Điện : Nguồn cung ứng « nô lệ » Sáu năm sau cuộc phóng sự điều tra, bất chấp những cam kết từ chính quyền Bangkok, nạn buôn người và ngược đãi lao động nhập cư ở Thái Lan không mấy gì được cải thiện và còn trở nên tồi tệ hơn, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Đến mức, đầu tháng 7/2021, bản « Báo cáo về nạn buôn người » (TIP – Trafficking in Persons) do bộ Ngoại Giao Mỹ công bố mỗi năm đã giáng hạng Thái Lan từ cấp 2 xuống bậc nằm trong danh sách theo dõi cấp 2. Xin giải thích rõ là, bảng xếp hạng của TIP phân chia thành 4 bậc : Cấp 1 dành cho tất cả những nước nào tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực tối thiểu được quy định trong đạo luật ban hành năm 2000 về việc bảo vệ các nạn nhân của nạn buôn người (TVPA). Cấp 2 là những nước chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực tối thiểu đó nhưng có những nỗ lực để thực hiện. Danh sách theo dõi cấp 2 bao gồm các quốc gia chưa thực hiện đủ TVPA nhưng có nỗ lực để thực hiện, nhưng vẫn bị xếp vào danh sách này là do số nạn nhân vẫn còn nhiều hay tăng đáng kể, hoặc không cho thấy có những cải thiện so với năm trước. Cấp 3 đương nhiên là những chính phủ nào không tuân thủ TVPA và cũng không có những nỗ lực quan trọng nào để cải thiện… Các tác giả của báo cáo TIP 2021 chỉ trích chính phủ Thái Lan bất lực trong cuộc chiến chống tình trạng lao động cưỡng bức mà các lao động di dân phải hứng chịu trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Thái Lan, đặc biệt là ngành đánh bắt cá xa bờ. Theo quan sát từ Văn phòng Tổ chức Di dân Quốc tế (IOM) chi nhánh tại Thái Lan, di dân lao động chủ yếu đến từ Cam Bốt, Lào và Miến Điện. Những lao động này, không được ký hợp đồng, phải làm việc từ 18 đến 20 giờ mỗi ngày, 7 ngày trên 7. Không chỉ thiếu ăn, thiếu nước, thiếu thuốc men, họ còn phải chịu cảnh hành hạ thể xác, như lời kể của một ngư dân, đã chạy thoát được, với Quỹ Công lý Môi trường. « Khi tôi mới đến, sự việc thật sự là rất tồi tệ. Họ chẳng khác gì như những kẻ xã hội đen. Họ tra tấn và giết ngư dân rồi ném xác xuống biển. Họ hành hạ thủy thủ đoàn bằng nhiều cách : đánh đập, đấm đá và giết chết trên đại dương. Tôi đã từng tận mắt chứng kiến cảnh giết người. Rồi chúng tôi nhìn thấy những chiếc tầu mầu đỏ nằm dọc theo bến cảng. Tôi tự nghĩ là chúng tôi sẽ phải sang thuyền để làm việc. Tôi hoàn toàn hoảng sợ ». Trả lời câu hỏi ban Pháp ngữ đài RFI, bà Géraldine Ansart, giám đốc Văn phòng IOM tại Thái Lan ghi nhận, dịch bệnh bùng phát còn làm nạn ngược đãi lao động di dân thêm trầm trọng. « Tại Thái Lan, người ta ước tính có khoảng 4 triệu lao động nhập cư, trên thực tế chỉ có khoảng một triệu, thậm chí là chưa tới nữa, là được hưởng bảo hiểm xã hội. Số còn lại, nếu bị tai nạn hay tử nạn tại nơi làm việc, thì họ và gia đình không được hưởng một chi phí bảo hiểm nào hết. Ở Thái Lan, có rất nhiều lao động bất hợp pháp, không có giấy tờ hợp lệ và tình trạng này còn trở nên nghiêm trọng hơn. Bởi vì, từ tháng 3/2020, Thái Lan chính thức đóng cửa biên giới, nhưng dòng lao động nhập cư vẫn tiếp tục đổ vào một cách trái phép. Đương nhiên, điều đó có nghĩa, họ vẫn sẽ là nạn nhân của tình trạng bóc lột lao động, họ đến mà không được bảo vệ về một số điểm chẳng hạn như chủ thuê có thể bất lương, khai thác họ bằng cách buộc làm việc thêm nhiều giờ quá mức, tịch thu giấy tờ tùy thân. Trong suốt nhiều đợt dịch liên tiếp, người ta đã thấy nhiều trường hợp chủ thuê, khi phát hiện những ổ dịch tại một số cơ sở, đã đuổi lao động di dân và gia đình ra khỏi nhà, để họ sống trên những chiếc thuyền bên cạnh, hay trong rừng. Bởi vì họ không muốn chi trả các khoản phí y tế như làm xét nghiệm, cách ly, hay thuốc điều trị Covid-19 ». Đại dương bao la, đời người như mành chỉ Vì sao hình thức lao động cưỡng bức này lại có thể hoành hành mạnh mẽ ở Thái Lan như vậy ? Ian Urbina, cố vấn đặc biệt cho chủ tịch World Maritime University, trả lời tạp chí Diplomatie (tháng 11-12/2020), cho rằng có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, tài nguyên cá đang cạn kiệt đến mức các nguồn dự trữ gần bờ hầu như đã biến mất. Các thuyền đánh cá buộc phải đi xa hơn để có thể đánh bắt một lượng cá tối thiểu. Đối với các hãng đánh bắt, điều này cũng đồng nghĩa là phạm vi lợi nhuận sẽ rất là hạn hẹp. Do vậy, để giảm chi phí, các doanh nghiệp và chủ tầu ngày càng dựa nhiều vào việc sử dụng lao động cưỡng bức, bóc lột nạn nhân của tình trạng buôn người và sử dụng hệ thống ràng buộc bằng nợ. Những lao động này đã bị đánh lừa và cưỡng ép đưa lên tầu ra khơi mà không bao giờ được trả lương. Cùng lúc này, tại những nước phát triển, người tiêu thụ tiếp tục tìm kiếm những sản phẩm rẻ nhất, kể cả các mặt hàng thủy hải sản. Điều thứ hai, như giải thích của ông Ian Urbina, là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất. Khi phải đi xa hơn, người công nhân trên những chiếc thuyền đánh cá đó cũng bị cách xa những lực lượng an ninh và các thanh tra lao động, một trạng thái không lo sợ bị trừng phạt ngự trị ngoài khơi xa. Rồi các chính sách bảo tồn thiên nhiên ở đại dương cũng còn rất ít, công luận cũng chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này. Người ta còn có xu hướng nghĩ rằng đại dương bao la, vạn vật ở đó còn khả năng tái sinh… Trong cùng cách nghĩ này, số phận những con người phải đi qua hay làm việc ở những vùng không gian rộng lớn đó dường như không được mấy xem trọng.   Vị cố vấn này, lưu ý rằng tình trạng này là chung cho toàn thế giới không chỉ riêng gì đối với Thái Lan. Tuy nhiên, tình trạng này gần như đạt đỉnh ở vùng Biển Đông, đặc biệt là Thái Lan. Một trong những nguyên nhân chính là vương quốc này thiếu hụt đến gần 50.000 ngư dân theo các số liệu năm 2014 của Liên Hiệp Quốc. Hàng chục ngàn lao động di dân, từ Cam Bốt và Miến Điện được đưa sang Thái Lan mỗi năm để bù đắp nguồn thiếu hụt triền miên. Các chủ tầu bất lương mua và bán con người như là mua bán gia súc. Hải sản Thái Lan và những « nô lệ thế kỷ XXI » Giờ đây bị xuống hạng, chính quyền Thái Lan tỏ ra thất vọng. Đối với Bangkok, điều đó phản ảnh là đất nước không có sự tiến bộ về vấn đề này. Theo phóng sự điều tra của Thailand’s Seafood Slaves hồi năm 2015, nạn tham nhũng trong hàng ngũ công chức Thái Lan là một trong những rào cản lớn nhất trong nỗ lực chống nạn buôn người, ngăn chặn tình trạng đánh bắt cá trái phép. Trước những chỉ trích từ Hoa Kỳ, bộ Ngoại Giao Thái Lan biện hộ rằng lao động di dân Cam Bốt, Lào và Miến Điện, đã được gia hạn thị thực nhập cảnh ở Thái Lan đến cuối tháng 3/2022. Quyết định này được đưa ra trong khuôn khổ các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19. Lời giải thích này đã không thuyết phục được một đại diện của tổ chức Seafood Campaign. RFI lưu ý, nữ đại diện này xin ẩn danh khi trả lời vì những lý do an toàn. « Lao động di dân tại Thái Lan bị tác động nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng dịch tễ Covid. Họ rõ ràng không được hưởng các biện pháp bảo hiểm xã hội. Những lao động này họ bị phân biệt đối xử bởi các đạo luật : Họ không được quyền thành lập công đoàn và điều đó có nghĩa là họ không có một tiếng nói nào ở nơi làm việc và họ không có khả năng cải thiện điều kiện làm việc của mình. Điều này còn làm cho họ trở nên yếu thế hơn trước những tay săn nhân công, chủ thuê và tất cả những ai muốn bóc lột họ. » Nạn lao động cưỡng bức ở Thái Lan chỉ là một mảng ghép rất nhỏ trong bức tranh toàn cảnh nạn buôn người – những « nô lệ của thế kỷ XXI » như cách gọi của nhiều tổ chức đấu tranh nhân quyền ở Thái Lan nói riêng và toàn thế giới nói chung. Thế giới có lẽ vẫn chưa quên những hình ảnh gây sốc, cảnh bán đấu giá người tại một khu chợ ở Libya, được phát sóng trên kênh truyền hình Mỹ CNN hồi tháng 11/2017. Những cảnh tượng đến từ một thời kỳ đen tối xa xưa trong lịch sử nhân loại, tưởng chừng như thể chẳng có gì thay đổi kể từ thời buôn bán nô lệ. Cuối cùng, xin được kết thúc bài viết bằng một lời kêu gọi tha thiết từ một ngư dân khi trả lời các nhà điều tra Quỹ Công lý Môi trường : « Những gì tôi muốn nói chính là nếu quý vị có muốn mua và ăn hải sản Thái Lan, xin biết rằng những con cá đó đến bằng chi phí từ việc bóc lột người lao động. Chúng tôi phải làm việc ngày đêm, đôi khi không được chợp mắt một chút nào. Chúng tôi làm việc bất kể thời tiết ra sao. Chúng tôi đang phá hủy cuộc đời mình ».
    11/17/2021
    9:19
  • Tạp chí xã hội - Ca cao Việt Nam “chất lượng cao” liệu có dễ được thị trường quốc tế đón nhận ?
    Ngành ca cao Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc quảng bá hình ảnh ca cao Việt ra quốc tế trong những năm gần đây. Tuy nhiên, để trở thành nước xuất khẩu ca cao, nông dân trồng ca cao và các thương hiệu sô-cô-la Việt phải đối mặt với nhiều thách thức. Mười năm trở lại đây, sô-cô-la Việt Nam không phải là cái tên quá xa lạ với những người yêu thích sô-cô-la. Sô-cô-la Việt Nam có mặt ở khắp các phòng trà tại Luân Đôn, trên các con phố của Nhật Bản, hay trong những trung tâm thương mại đồ cao cấp tại Galarie Lafayettes ở kinh đô ánh sáng Paris.  Nhờ các chính sách truyền thông mạnh mẽ, thương hiệu ca cao cao cấp Marou, một trong những thương hiệu sô-cô-la Việt Nam đầu tiên, đã thành công đưa tên tuổi của ca cao Việt  ra thế giới. "Hương vị ca cao không phải ở đâu cũng có được" Được thành lập năm 2011 bởi hai người Pháp, Vincent Mourou et Samuel Maruta. Hai nhà sáng lập đã bắt đầu từ việc đi tuốt quả ca cao tận vườn để thử nghiệm làm sô-cô-la đến việc mang những thanh sô-cô-la Việt đến 32 quốc gia trên thế giới. Tại hội chợ quốc tế sô-cô-la “Salon du Chocolat” diễn ra ở Paris, từ ngày 28/10 đến 01/11/2021. Sự kiện là cầu nối cho các nhà sản xuất sô-cô-la và ca cao giao lưu trực tiếp với những người quan tâm, yêu thích sô-cô-lat. Tại đây,  RFI đã gặp ông Arnaud Normand, đầu bếp, chịu trách nhiệm sản xuất làm ra những thanh sô-cô-la Marou đầu tiên. Theo ông Normand, hạt ca cao Việt Nam có một vị đặc biệt mà không phải ở đâu cũng có được : “Nhờ vào Việt Nam mà tôi yêu thích làm sô-cô-la từ hạt ca cao. Tôi biết rằng tôi sẽ luôn làm sô-cô-la bằng ca cao Việt, bởi vì vị của nó rất đặc biệt so với các loại ca cao khác, hơi đắng, hơi chua, và đúng vị của trái cây. So với hạt ca cao từ Châu Phi, đa phần là ‘sản xuất hàng loạt’, gen của cây ca cao bị biến đổi để cho nhiều quả hơn, nên chắc chắn nó không có vị gì đặc biệt. “Chương trình ca cao Việt Nam” cũng là một nhân tố quyết định lớn, vì giống cây được trồng là loại tốt, nên dĩ nhiên sẽ cho ra hạt chất lượng, và tạo nên một hương vị  sô cô la tuyệt hảo. Khí hậu cũng là nhân tố quan trọng. Thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, phù hợp cho  phát triển ca cao, để có hai vụ thu hoạch”  Chặng đường dài để trở thành nước xuất ca cao Cây cacao được đưa vào trồng ở Việt Nam từ trước những năm 1945.  Do hạn chế về chiến tranh, thiếu kỹ thuật và không đem lại nhiều lợi nhuận như cà phê hay hồ tiêu nên đa phần bị chặt bỏ, nông dân chuyển qua trồng cây khác. Ca cao chủ yếu được trồng xen canh với điều, hồ tiêu và dừa thay vì chuyên canh như ngành trồng ca cao ở Côte d’Ivoire và Ghana ở Châu Phi, hai nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu ca cao. Quan chức Việt Nam tham vọng đưa quốc gia thành nước xuất khẩu ca cao giống như gạo và cà phê. Năm 2012, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đưa ra Nghị định quy hoạch phát triển ca cao bền vững, đề ra mục tiêu đạt 50 000 ha diện tích trồng ca cao vào năm 2020, hướng tới tổng giá trị xuất khẩu 65-75 triệu USD. Ca cao được trồng chủ yếu ở 15 tỉnh tại khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông cửu long. Sau khi Nghị định được ban hành, Cục trồng trọt đã thống kê con số kỷ lục về diện tích trồng ca cao, lên đến đạt 25 700 hec-ta vào năm 2012. Tăng vọt so với những năm về trước khi diện tích trồng ca cao chỉ dao động từ 5000 đến 15000 hec-ta Tuy nhiên kể từ năm 2013, diện dích ca cao liên tục giảm, đến năm 2020 chỉ còn  chưa đến 5000 ha. Trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt, ông Fréderic Amiel, chuyên gia nghiên cứu về ca cao từ mười năm nay. Ông vừa xuất bản cuốn sách mang tên "Câu chuyện về toàn cầu hóa dành cho những người yêu thích sô-cô-la". Chuyên gia đánh giá về chiến lược phát triển ca cao ở Việt Nam như sau : “ Từ trước đến nay, thị trường cà phê và ca cao luôn cạnh tranh nhau. Cây ca cao và cà phê được trồng trong cùng điều kiện môi trường sống. Nhiều quốc gia, ví dụ như Venezuela. Quốc gia này chỉ trồng ca cao từ thế kỷ 19, rồi đột nhiên chuyển hẳn sang chỉ trồng cà phê. Thông thường, các quốc gia chọn một trong hai thị trường để phát triển, một là ca cao hai là cà phê. Trừ một số trường hợp hiếm như Côte d'ivoire, phát triển cả hai. Sự cạnh tranh giữa hai thị trường dẫn đến việc một quốc gia khó có thể vừa là quốc gia đứng đầu xuất khẩu cà phê, và ca cao cùng một lúc. Một thị trường sẽ chiếm ưu thế hơn. Việt Nam đã chọn thị trường cà phê. Điều này có thể giải thích về việc chính phủ Việt Nam đã có ý định đưa đất nước thành nước xuất khẩu ca cao cách đây khoảng gần một thập kỷ. Nhưng lại gặp phải nhiều khó khăn.Thứ nhất là cạnh tranh về diện tích đất trồng với cà phê, vốn đã được quy hoặch từ trước. Thứ hai là về sản lượng, nếu không đáp ứng được sản lượng cho xuất khẩu. Ngành trồng ca cao khó có thể lấy được chỗ đứng”.Định hướng theo mô hình ca cao bền vững, chất lượng cao Theo cơ quan phát ngôn của bộ Công Thương, diện tích đất trồng ca cao sụt giảm cũng liên quan đến các yếu tố như biến động giá, do vùng trồng cây chưa được lựa chọn phù hợp, hay do hạn chế về kỹ thuật và thiếu nguồn thu mua từ nội địa và quốc tế. Sô-cô-la Marou được cho là đã mở ra một trang mới cho phát triển ca cao bền vững tại Việt Nam. Marou, ngay từ đầu đã hướng tới sản phẩm cao cấp, giá thành cao. Ca cao được được định giá cao hơn vì thương hiệu này thực hiện mô hình “bean-to-bar” :  thu mua hạt ca cao từ người trồng, sau đó chế biến trong xưởng sản xuất sô-cô-la mà không qua trung gian. Theo ông Frédéric Amile, việc định hướng thị trường chiến lược như vậy là một thách thức không nhỏ đối với sô-cô-la Việt Nam và ngành sản xuất ca cao : “Một thách thức lớn đối với người trồng ca cao ở Việt Nam, đó là, hiện nay, có hai thị trường ca cao phân chia rõ ràng. Thứ nhất là thị trường trồng ca cao “hàng loạt” do Bờ Biển Ngà và Ghana đứng đầu, đây là thị trường cho các loại ca cao “vô danh”, dùng cho tiêu dùng sô-cô-la đại chúng. Thứ hai là thị trường ca cao chất lượng cao, chủ yếu được gắn với các nước châu Mỹ la tinh bởi người tiêu dùng sô-cô-la. Những người yêu chuộng sô-cô-la thường sẽ không nghĩ đến châu Á như một nơi có sô-cô-la chất lượng cao. Việt Nam đã cố gắng đầu tư vào ngành này, để trở thành một nước xuất khẩu ca cao.  Nhưng lại hướng đến phân khúc ca cao hảo hạng để làm ra socola chất lượng cao. Thế nhưng, hình ảnh sô-cô-la Việt Nam lại quá mới mẻ, nên khó để người tiêu dùng gắn hình ảnh sô-cô-la chất lượng cao với Việt Nam”     Tìm chỗ đứng trong một thị trường đã bão hòa Hơn 60 % sản lượng ca cao thế giới được sản xuất đến từ Côte d’ivoire và Ghana. Các đồn điền ca cao ở Tây Phi chủ yếu được trồng từ những năm 1990. Năm 2018, bệnh “sưng chồi”, còn được gọi là “bệnh si đa ở ca cao” bùng phát ở cả hai nước, ảnh hưởng tới gần 300 000 hecta ca cao. Hơn 100 000 hec ta ca cao sẽ phải nhổ bỏ. Sản xuất ca cao hàng loạt là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nạn phá rừng ở Tây Phi. Tiếp đó là biến đổi khí hậu và suy thoái đất trồng cũng như giống cây. Trước những tình trạng này,  Frédéric Amiel cho rằng “cục diện thế giới đang dần thay đổi” đối với thị trường sản xuấ ca cao lớn nhất thế giới : “Hai nước xuất khẩu ca cao hàng đầu thế giới đang đứng trước hai lựa chọn : một là làm mới lại đất trồng ca cao; hai là để cho các nước khác “vượt mặt” lấy mất vị trí dẫn đầu, đó có thể là ca cao từ châu Mỹ la tinh hoặc từ châu Á. Ở châu Á, ngành trồng ca cao đã xuất hiện từ rất lâu, từ ít nhất hai thập kỷ. Indonesia là nước xuất khẩu ca cao đứng thứ ba thế giới. Vị trí của ca cao châu lục này không thể chối bỏ. Tôi thấy rằng có một khuynh hướng phát triển các vùng trồng ca cao mới ở Châu á. Nhưng các nước này lại gặp phải khó khăn lớn. Hiện nay, ca cao đang trong tình trạng “sản xuất thừa”. Lượng ca cao sản xuất ra nhiều hơn lượng tiêu dùng. Thế nên, không có nhiều chỗ cho thị trường mới để phát triển. Thực ra, ca cao ở châu Á có thể có cơ hội để phát triển nếu chúng ta nhìn vào dữ liệu của chuỗi cung ứng. Đó là thị trường sô-cô-la Nhật bản và Trung quốc, đã hình thành từ khá lâu. Ở các thị trường này, sô-cô-la đang rất được ưa chuộng ở tầng lớp trung lưu. Chính vì thế, có khả năng hai thị trường tiềm năng này có thể tạo chỗ đứng cho sô-cô-la ở châu Á, mà nguồn ca cao chủ yếu đến từ Indonesie, chế biến ở Malaysia rồi xuất sang Nhật Bản và Trung quốc. Chuỗi cung ứng có thể được mở rộng ra hơn nữa với các nước khác trong khu vực, đầy hứa hẹn phát triển cho thị trường Việt Nam” Theo tiêu chí của Tổ chức Cacao Quốc tế (ICCO), Việt Nam đứng thứ 23 trong danh sách những nước có sản phẩm ca cao đạt hương vị tốt, là quốc gia châu Á thứ hai đạt danh hiệu này sau Indonesia. Tuy nhiên, trong khi 40 % sản lượng ca cao Việt được công nhận thì đối với Indonesia, con số này chỉ là 1 %. Những tiêu chí quyết định đến chất lượng ca cao liên quan đến cách thức trồng cây theo mô hình bền vững, thổ nhưỡng, và độ lên men của hạt ca cao. Năm 2016, Sô-cô-lat Marou của Việt Nam được New York Time đánh già là một trong những loại sô-cô-la ngon nhất thế giới.   Đối với Arnaud Normand, ca cao Việt nam hoàn toàn có tiềm năng để phát triển hơn nữa. Theo ông, để ca cao Việt Nam có chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế, các nhà sản xuất sô-cô-la cần đẩy mạnh chiến dịch truyền thông hơn nữa về chất lượng hạt ca cao Việt. “Nhiều người vẫn chưa biết đến ca cao Việt, nó mới xuất hiện trên thị trường thế giới không lâu, chỉ khoảng 10 năm nay. Chúng ta cần thời gian để người tiêu dùng biết đến hạt ca cao Việt Nam. Loại ca cao thượng hạng sẽ làm ra sô-cô-la hảo hạng. Ngay cả chính tôi, ca cao Việt là một trong những loại tôi quảng bá tại doanh nghiệp của tôi ở Paris. Khi nếm  thử sô-cô-la làm từ ca cao Việt, bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt . Và khi họ thấy ngon, khách hàng sẽ mua. Và khi nhiều khách mua sô-cô-la của tôi thì tôi sẽ mua nhiều hạt ca cao hơn” Sau khi kết thúc hành trình "sản xuất sô-cô-la" với Marou, Normand đã quay trở lại Paris năm 2019 để tạo dựng thương hiệu của riêng mình, cùng một số người bạn gây dựng thương hiệu sô-cô-la “Les copains de Bastien”, chỉ sử dụng nguyên liệu ca cao hảo hạng từ các nước ít được biết đến như ca cao đến từ Cuba, Colombia hay Việt Nam. Ông nhấn mạnh rằng Việt Nam cần phát triển thêm nhiều thương hiệu sô-cô-la hơn nữa. Nếu như không có nhiều thương hiệu sô-cô-la sử dụng ca cao Việt, sản xuất ca cao khó mà tăng lên  được. Hương vị ca cao Việt đã được công nhận rộng rãi, vậy nếu muốn thâm nhập thị trường thế giới, thì định hướng phát triển của ca cao Việt Nam là đi theo theo con đường phát triển bền vững, duy trì mô hình trồng trọt xen canh, thích ứng với điều kiện môi trường tự nhiên.
    11/10/2021
    9:34
  • Tạp chí xã hội - Kế hoạch đầu tư France 2030 : Mục tiêu số 1 là phát triển công nghệ lò hạt nhân nhỏ SMR
    Sáu tháng trước kỳ bầu cử tổng thống, trong bối cảnh nước Pháp đang đối phó với tình trạng năng lượng, chất đốt tăng giá mạnh khiến chính phủ lo ngại nguy cơ tái bùng phát phong trào đấu tranh xã hội Áo Vàng, ngày 12/10/2021, tổng thống Emmanuel Macron công bố kế hoạch đầu tư France 2030 trị giá 30 tỉ euro, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ điện hạt nhân. Kế hoạch đầu tư France 2030 : Mục tiêu số 1 là phát triển công nghệ lò hạt nhân nhỏ SMR Đại dịch Covid-19 làm cho nước Pháp đã thấy rõ những điểm yếu kém, dễ bị tổn thương, sự lệ thuộc vào nước ngoài về sản xuất, đơn cử là tình trạng khan hiếm khẩu trang hồi đầu dịch Covid-19, việc chưa thể tự điều chế vac-xin ngừa virus corona … Mục tiêu của kế hoạch France 2030 là phát triển khả năng cạnh tranh của nước Pháp về công nghiệp và các công nghệ trong tương lai, thúc đẩy nền kinh tế Pháp phát triển, giành lại sự độc lập về sản xuất, « giành lại vị thế của một dân tộc lớn mạnh về sáng chế, phát minh và nghiên cứu » như nước Pháp từng tự hào với tàu cao tốc TGV, máy bay Rafale, máy bay siêu thanh Concorde, lĩnh vực hạt nhân … Ngoài công nghệ chế biến thực phẩm, dược phẩm sinh học, thiết bị y tế, chíp bán dẫn, kim loại quý hiếm, công nghệ số, robot, giải mã gien, lĩnh vực chuyển đổi năng lượng đặc biệt được chú ý. Với khoản đầu tư 8 tỉ euro, nước Pháp có tham vọng vươn lên dẫn đầu thế giới về « hydrogène xanh » để thay thế các loại năng lượng hóa thạch, cho phép « phi cac-bon hóa nền công nghiệp », nhất là trong lĩnh vực sản xuất thép, xi măng, hóa chất và giao thông vận tải. Thế nhưng, tổng thống Pháp không ngần ngại khẳng định « mục tiêu số 1 » của Kế hoạch France 2030 phải là phát triển công nghệ lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ SMR - Small Modular Reactor - để sản xuất điện, với số tiền đầu tư 1 tỉ euro. Trong bài phát biểu công bố kế hoạch đầu tư France 2030 trước 200 lãnh đạo doanh nghiệp và sinh viên, từ điện Elysée, tổng thống Pháp Emmanuel Macron ngày 12/10 nhấn mạnh : « Mục tiêu số 1 là từ nay đến năm 2030 phát triển tại Pháp các lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ mang tính đổi mới và cho phép xử lý rác thải hạt nhân dễ hơn. Tại sao lại đặt chủ đề này lên trên hết ? Bởi vì việc quan trọng hàng đầu là sản xuất năng lượng. Để sản xuất năng lượng, nhất là điện, chúng ta có một điều may mắn về mô hình phát triển trong quá khứ : mang lưới các nhà máy điện nguyên tử (…) Cần nói rõ điều này, nhắc lại điều này : có 200.000 người Pháp làm việc trong lĩnh vực điện hạt nhân là một điều may mắn, bởi điều này cho phép chúng ta trở thành quốc gia châu Âu phát thải ít khí CO2 nhất trong sản xuất điện. » Phục vụ trong nước hay chỉ để xuất khẩu ? Các lò SMR mà nước Pháp hướng đến có công suất từ 25 đến 600 MW, trong khi công suất của thế hệ lò phản ứng hạt nhân EPR (lò phản ứng công suất cao) mà công ty điện lực Pháp EDF đang phát triển có công suất tới 1.600 MW. Nếu EPR phục vụ cho việc sản xuất điện đại trà, quy mô quốc gia thì SMR lại hướng tới đáp ứng như cầu cấp địa phương. Vấn đề là hiện nay, mới chỉ có một lò phản ứng EPR đang được EDF xây dựng ở Flamanville (Manches) nhưng việc xây lắp đang bị chậm tiến độ rất nhiều với chi phí phát sinh lên rất cao. Chính quyền của tổng thống Macron cũng dự kiến lắp đặt thêm 6 lò phản ứng công suất cao EPR nhưng vì nhiều lý do quyết định chính thức vẫn chưa được đưa ra. Lợi thế của lò hạt nhân nhỏ so với lò quy mô lớn EPR là chi phí thấp hơn, lắp đặt đơn giản và nhanh chóng hơn, cũng như có nhiều cơ hội để xuất khẩu, góp phần khẳng định sức mạnh công nghệ cho nước Pháp. Sau bài phát biểu của tổng thống Macron, ông Francis Sorin, Công ty Năng lượng Hạt nhân Pháp (SFEN) giải thích trên đài RFI : « Modular có nghĩa là lò phản ứng có thể được sản xuất từ nhà máy, có thể được lắp đặt các bộ phận chính tại nhà máy rồi sau đó được vận chuyển đến các địa điểm, điều này khiến các hoạt động công nghiệp trở nên đơn giản hơn và giảm chi phí sản xuất. Đối với rất, rất nhiều nơi trên thế giới, có những lò phản ứng hạt nhân như vậy là cực kỳ quý giá, chẳng hạn các vùng ven biển nằm cách xa các vùng trung tâm ở chính quốc và cần có điện. Như quý vị thấy đấy, các lò phản ứng hạt nhân nhỏ không chỉ dành để sản xuất điện, mà còn có thể dùng để khử mặn nước biển, sản xuất hydrogène, cung cấp nhiệt cho các hệ thống sưởi. Ngoài ra, tôi cũng nghĩ rằng khi các nhà máy nhiệt điện than ngưng hoạt động, khi chúng ta không khai thác chúng nữa, việc xây dựng một lò phản ứng hạt nhân nhỏ công suất 100MW hoặc 200 MW để bù đắp cho các nhà máy nhiệt điện than có thể là điều sáng suốt, đúng đắn ». Trên trang Tribune, ông Philippe Stohr, giám đốc năng lượng của Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Pháp CEA, khẳng định về lâu dài Pháp có thể sử dụng SMR để sản xuất hydrogène, sản xuất nhiệt phục vụ công nghiệp, thậm chí là sản xuất nhiên liệu tổng hợp, chẳng hạn trong ngành chế tạo máy bay … Kế hoạch phát triển điện hạt nhân đương nhiên được các doanh nghiệp trong lĩnh vực gây nhiều tranh cãi này hoan nghênh. Thế nhưng, phát biểu của tổng thống Macron về phát triển điện hạt nhân lại bị các đảng phái đối lập và nhất là các tổ chức bảo vệ môi trường chỉ trích. Trên đài RFI, ông Mathieu Orphelin, dân biểu đảng Xanh lưu ý các lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ SMR không phải là giải pháp tích cực để nước Pháp có thể đáp ứng nhu cầu kép - bảo đảm năng lượng của nước Pháp và chống biến đổi khí hậu : « Mối ưu tiên thực sự hiện nay liệu có phải là phát triển một thế hệ lò phản ứng hạt nhân mới được giới thiệu là nhỏ hơn, an toàn hơn các lò phản ứng thế hệ trước - như mỗi lần người ta phát biểu - hay không ? Thật bất ngờ khi thấy là trong khi Đài quan sát về tình trạng bấp bênh về năng lượng cho chúng ta biết là trên thực tế số người dân Pháp gặp khó khăn để có thể được sưởi ấm đã tăng gấp đôi thì tổng thống Pháp lại nói về những ảo tưởng công nghệ. Tốt hơn là phải dành thêm nhiều thời gian cho công tác cải tiến năng lượng và các câu hỏi tương tự hơn là lúc nào cũng tìm cách lẩn tránh vấn đề. Việc đất nước chúng ta khởi động kế hoạch 2030 chẳng có tác dụng gì. Từ nay đến lúc đó, chúng ta không thể đáp ứng các yêu cầu cấp bách về khí hậu cũng như không thể đáp ứng nhu cầu của người dân Pháp » SMR - Trận chiến địa chính trị Trên đài Europe 1, giám đốc điều hành chuyên trách các dự án về hạt nhân mới của công ty điện lực Pháp EDF giải thích mục tiêu của EDF là « nhắm tới thị trường quốc tế » và hướng tới các lò phản ứng có công suất tương đương công suất của phần lớn các nhà máy nhiệt điện than trên thế giới và có thể là cần phải được thay thế nhanh chóng trong thập niên 2030-2040. Trang Tribune ngày 13/10 dẫn lời ông Nicolas Goldberg, nhà tư vấn năng lượng của Colombus Consulting, phân tích các lò phản ứng nhỏ SMR sẽ không phải được sử dụng để phi cac-bon toàn bộ nền kinh tế Pháp, mà đó là một phương tiện để tiếp tục tham gia « cuộc chơi », để chứng minh là nước Pháp đầu tư vào công nghệ hạt nhân tương lai. Nước Pháp đang tham gia vào một trận chiến địa chính trị về lĩnh vực này. Thực ra, vốn là một trong những quốc gia phát triển về điện hạt nhân trên thế giới, nhưng Pháp lại đang « chậm chân » hơn nhiều nước như Nga, Mỹ, Canada trong « cuộc đua lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ SMR ».   Vào cuối năm 2020, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế AIEA thống kê trên thế giới có 72 dự án SMR ở 18 nước đang được phát triển hoặc đang trong giai đoạn xây dựng. Các lò phản ứng hạt nhân nhỏ có thể do các doanh nghiệp Nhà nước phát triển, chẳng hạn ở Trung Quốc hay Nga, hoặc cũng có thể do các công ty khởi nghiệp thực hiện, như ở Bắc Mỹ. Hiện nay, mới chỉ có hai SMR đang hoạt động : hai lò phản ứng hạt nhân SMR nổi do tập đoàn Nga Rosatom lắp đặt và khai thác từ năm 2020. Dù có tham vọng từ nay đến năm 2030 Pháp đi tiên phong về công nghệ SMR và trở thành quốc gia xuất khẩu lò phản ứng điện hạt nhân nhỏ ra thế giới, nhưng trên thực tế, hiện nay, nước Pháp mới chỉ có một dự án đang được phát triển : Nuward (Hạt nhân tiến bước). Đây là dự án do công ty điện lực Pháp EDF thực hiện phối hợp với các đối tác khác của Pháp như tập đoàn công nghiệp Naval Group, công ty kỹ thuật nguyên tử TechnicAtome, Ủy ban năng lượng hạt nhân CEA. Mục tiêu đề ra là đến năm 2030 sản xuất được ngay trên lãnh thổ Pháp một mô hình lò phản ứng SMR để rồi sau đó phục vụ cho công tác xuất khẩu. Vấn đề là Nuward cũng dựa theo công nghệ hạt nhân nước áp lực như đối với các lò phản ứng hạt nhân thế hệ 3 - EPR, điều đó có nghĩa là cũng không giảm lượng rác thải hạt nhân so với công nghệ lò EPR như tổng thống Pháp Macron kỳ vọng. Đó cũng chính là một trong những lý do khiến kế hoạch phát triển SMR bị các tổ chức bảo vệ môi trường phản đối.   Greenpeace : SMR là giải pháp sai lầm Green Peace chi nhánh Pháp gọi kế hoạch của tổng thống Macron là « các giải pháp sai lầm » bởi chính quyền « không ngừng trì hoãn sự chuyển đổi (năng lượng) thực sự và tiếp tục sản xuất cứ như thể các nguồn tài nguyên của hành tinh là vô tận ». Theo tổ chức này, sớm nhất thì cũng phải đến năm 2035 thế hệ lò SMR mới sẵn sàng đi vào hoạt động và như vậy là quá muộn để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp về chống biến đổi khí hậu và SMR cũng không mang lại giải pháp thực thụ trong xử lý rác thải có chứa chất phóng xạ. Ông Yanick Rousselet, chuyên trách mảng hạt nhân của tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace chi nhánh Pháp 13/10 đặc biệt lưu ý đến vấn đề an toàn và rác thải hạt nhân : « Bây giờ, điều mà ông Macron đề xuất là tiếp tục phát triển một công nghệ mà đối với chúng tôi đó thực sự là công nghệ của quá khứ, và nhất lại là phát triển các lò phản ứng hạt nhân nhỏ SMR mà giá thành điện tính theo KW sẽ không thể đạt mức thấp cạnh tranh với các loại năng lượng tái tạo. Dẫu sao đi chăng nữa thì điều mà cho đến nay chúng ta được biết là các lò phản ứng hạt nhân quy mô rất lớn đã được phát triển nhằm tìm cách giảm giá thành điện. Trên thực tế, các lò phản ứng hạt nhân nhỏ mà chúng ta có thể đặt rải rác nhiều nơi có thể dẫn tới việc sau này chúng ta sẽ phải chịu giá thành điện cao bùng nổ, bởi chúng ta sẽ phải lắp đặt rất nhiều lò phản ứng như vậy trong trường hợp chúng ta muốn chúng phát huy tác dụng, và như vậy chúng ta sẽ làm các chất hạt nhân phân tán khắp nơi. Điều đó có nghĩa là có mối nguy làm gia tăng sự mất an toàn. Đó thực sự là một vấn đề. Thêm vào đó, chúng ta sẽ tiếp tục tạo ra nhiều rác thải hạt nhân. Hiện nay, rác thải hạt nhân đã có ở khắp nơi và đã quá tải. Vì thế, chúng ta không thể tính tới việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân mới mà không nói tới mối nguy hiểm của rác thải hạt nhân ».
    11/5/2021
    9:16

Über TẠP CHÍ XÃ HỘI

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ XÃ HỘI, TẠP CHÍ ÂM NHẠC und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.at-App

TẠP CHÍ XÃ HỘI

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ XÃ HỘI: Zugehörige Podcasts

TẠP CHÍ XÃ HỘI: Zugehörige Sender

Information

Wegen Einschränkungen Ihres Browsers ist dieser Sender auf unserer Website leider nicht direkt abspielbar.

Sie können den Sender alternativ hier im radio.at Popup-Player abspielen.

Radio